Chuyên mục

Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 320
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Chương trình nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá trọng điểm, chủ lực thành phố Hải Phòng: Điểm qua những thành tựu và hạn chế giai đoạn 2013-2015 (20/09/2016)

Năng suất là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp, là cơ sở để nâng cao thu nhập, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt cho người lao động. Đối với quốc gia, năng suất giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng nền kinh tế thông qua sử dụng một cách hiệu quả các yếu tố đầu vào là “vốn” và “lao động” để gia tăng kết quả đầu ra. Phong trào thúc đẩy hoạt động năng suất và chất lượng được nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapore, Malaysia hình thành và phát triển từ rất sớm đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế của các quốc gia này.

Hải Phòng là một trong những địa phương tích cực hưởng ứng phong trào năng suất và chất lượng (NSCL). Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng phong trào vẫn phát triển chậm chưa đáp ứng được đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đang diễn ra với tốc độ ngày một cao. Năng suất lao động của Việt Nam nói chung, của Hải Phòng nói riêng so với các nước trong khu vực còn ở mức rất thấp. Vì vậy, các chương trình thúc đẩy hoạt động năng suất và chất lượng được tạo dựng và chỉ đạo thường xuyên, đặc biệt từ tầm vĩ mô với các chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia phù hợp mới có thể đạt được những bước đột phá về năng suất, chất lượng và tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đất nước.

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân thành phố về phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Uỷ ban nhân dân thành phố đã có quyết định phê duyệt 11 chương trình KH&CN có mục tiêu, trọng điểm đến năm 2020, trong đó có Chương trình nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá trọng điểm, chủ lực. Chương trình được thực hiện với mục tiêu: “đến năm 2020, các sản phẩm chủ yếu đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong GDP lên 30% vào năm 2015, 40% vào năm 2020”.

Giai đoạn 2013-2015, Chương trình thúc đẩy các hoạt động nâng cao NSCL các sản phẩm, hàng hóa trọng điểm, chủ lực của thành phố bằng hàng loạt các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về năng suất, chất lượng. Đây  được xác định là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của Chương trình. Nhiều chương trình quảng bá về NSCL được phát sóng trên truyền hình Hải Phòng. Hàng loạt các tin, bài, chuyên mục có nội dung tuyên truyền về NSCL được đăng tải trên các báo của địa phương, báo chí Trung ương, các tạp chí chuyên ngành, cổng Thông tin điện tử và các phương tiện truyền thông khác. Cụ thể như: tuyên truyền trên chuyên mục Khoa học công nghệ và đời sống phát sóng trên Truyền hình Hải Phòng với các phóng sự mang tên: Gian nan làng nghề, Hải Phòng trên con đường KH&CN, Ứng dụng KH&CN trong việc xây dựng NTM, Ứng dụng Công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền trên Chuyên trang khoa học công nghệ - Báo Hải Phòng, Bản tin KH&CN Hải Phòng, cổng thông tin KH&CN Sở KH&CN và Cổng thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng cũng được chú trọng với hàng loạt tin bài đăng tải như: Năng suất chất lượng: Chìa khóa vượt qua khủng hoảng; Nhựa Thiếu niên Tiền Phong: Lá cờ đầu trong phong trào năng suất chất lượng; Cải tiến năng suất - Con đường dẫn tới thành công của doanh nghiệp; Ứng dụng công nghệ sinh học nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa: Đẩy mạnh chuyển giao, nhân ra diện rộng; Những chiến thuật để tăng năng suất làm việc, Thành phố hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao NSCL…

Bên cạnh đó, tổ chức 06 cuộc hội nghị, hội thảo để quảng bá và cập nhật thông tin, kiến thức về mô hình, giải pháp nâng cao NSCL sản phẩm, hàng hóa  trọng điểm, chủ lực của thành phố. Tiêu biểu như: Áp dụng các giải pháp quản lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong công nghiệp; Ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao NSCL sản phẩm hàng hóa trọng điểm, chủ lực của thành phố; Ứng dụng các giải pháp công nghệ nhằm nâng cao chất lượng nông sản; Giải pháp tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà; Giải pháp tiết kiệm năng lượng hiệu quả từ nguồn năng lượng tái tạo; Ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm gia tăng giá trị hàng hóa trong các làng nghề.

Nhiều lớp tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức cơ bản và chuyên sâu về NSCL cho nhiều đối tượng khác nhau, tập trung cho cán bộ chuyên trách các sở ngành và các cán bộ quản lý trong doanh nghiệp cũng được chú trọng tổ chức. Bao gồm: 09 lớp đào đạo các kiến thức cơ bản về KHCN và chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, năng suất chất lượng, sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp, các sở, quận, huyện và viện, trường và các tổ chức KHCN; 01 lớp tập huấn "Quản lý năng suất, chất lượng trong ngành may mặc và da giầy".

Chương trình đã xây dựng danh mục các sản phẩm, hàng hóa trọng điểm, chủ lực của thành phố; lựa chọn lập danh sách các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa trọng điểm, chủ lực của thành phố cần được tập trung hỗ trợ. Căn cứ kết quả của Đề án “Nâng cao năng suất và chất lượng các sản phẩm, hàng hoá trọng điểm của Thành phố Hải Phòng đến năm 2020” thực hiện năm 2012, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã tiến hành xây dựng danh mục các sản phẩm, hàng hóa trọng điểm, chủ lực của thành phố Hải Phòng dựa vào 11 lĩnh vực ngành đã được xác định trong đề án trên và lập danh sách 100 doanh nghiệp cần được tập trung hỗ trợ nâng cao NSCL. Danh mục được các sở, ngành thống nhất xác định. Các danh mục và danh sách các doanh nghiệp này cũng thường xuyên được rà soát, cập nhật, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo công tác hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia Chương trình NSCL thực hiện đúng trọng tâm, trọng điểm và đúng đối tượng.

Chương trình còn được triển khai bằng những hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa trọng điểm, chủ lực nâng cao năng suất và chất lượng theo dự án. Trong đó, đã tư vấn cho 16 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất chất lượng: ISO 9001:2008; ISO 22000; 5S. Đồng thời, trong các đợt kiểm tra tiêu chuẩn đo lường chất lượng hàng năm, đã hướng dẫn các doanh nghiệp áp dụng TCVN, QCVN; xây dựng áp dụng TCCS; công bố hợp chuẩn, hợp quy. Trong 3 năm 2013 đến 2015, có 81 công bố hợp quy, 31 công bố hợp chuẩn, thuộc 18 đơn vị, doanh nghiệp; có 211 tiêu chuẩn cơ sở soát xét thuộc 79 đơn vị soát xét tiêu chuẩn cơ sở.

Để xúc tiến việc triển khai lập các dự án riêng để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hàng hóa trọng điểm, chủ lực nâng cao năng suất chất lượng, ngày 09 tháng 10 năm 2015 cơ quan thường trực Chương trình là Sở Khoa học và Công nghệ đã ban hành quyết định số 248/QĐ-SKHCN phê duyệt Kế hoạch thí điểm hỗ trợ xây dựng dự án nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa trọng điểm, chủ lực cho 03 doanh nghiệp thuộc 3 lĩnh vực: Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm (Công ty TNHH Quang Hải đề xuất), Sản xuất vật liệu xây dựng (Công ty TNHH Gốm xây dựng Đá Bạc đề xuất), Đúc, luyện kim, gia công cơ khí (Công ty cổ phần đúc 19/5 đề xuất).

Với những nỗ lực này, 3 năm qua Chương trình đã đạt được những kết quả nhất định. Thông qua các hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá với nội dung phong phú, hình thức đa dạng … nhận thức về vai trò quan trọng của NSCL đối với sự phát triển và hội nhập của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng đã được nâng lên. Vấn đề năng suất, cải tiến năng suất được xuất hiện nhiều hơn trong tư duy và hành động của các nhà lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là lãnh đạo doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chương trình đã tạo lập được nền tảng cho hoạt động nâng cao năng suất chất lượng từ việc khuyến khích/bắt buộc các doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến, quy chuẩn kỹ thuật. Việc chuyển đổi hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia trở thành một hệ thống tiêu chuẩn có trình độ khoa học-kỹ thuật và mức độ hài hòa cao với Tiêu chuẩn Quốc tế, Tiêu chuẩn Khu vực và Tiêu chuẩn nước ngoài sẽ góp phần đáng kể trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trên thị trường thế giới. Chính vì vậy thời gian qua, thành phố đã rất khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm theo Tiêu chuẩn Quốc gia và Tiêu chuẩn Quốc tế, nhất là đối với các sản phẩm hàng hóa trọng điểm, chủ lực. Hiện nay nhiều doanh nghiệp tại Hải Phòng đã và đang áp dụng các tiêu chuẩn: ASTM (Mỹ), JIS (Nhật), BS (Anh), DIN (Đức), ISO … tiêu biểu là các công ty: Thép Việt Úc, thép Việt - Hàn, Nhựa Thiếu niên Tiền Phong, Cổ phần Sơn Hải Phòng …

Nhờ đó, đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP thành phố tương đối khá: trong giai đoạn 2001 - 2010, trung bình TFP đóng góp 26,9% cho mức tăng trưởng GDP của thành phố, so với trung bình của cả nước là 19,95% (số liệu của Viện quản lý kinh tế Trung ương).

Tuy vậy, việc thực hiện Chương trình vẫn còn có một số tồn tại và hạn chế nhất định. Cụ thể là:

Công tác tuyên truyền phổ biến đã được tiến hành tuy nhiên chưa đạt được hiệu quả tích cực như mong muốn. Chưa tận dụng được cơ hội truyền thông để có những phản hồi từ doanh nghiệp (quy mô, nguồn lực, nhu cầu ...) làm cơ sở nền tảng giúp cho bước triển khai tiếp theo tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí.

Nếu đa số các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố đã có ý thức áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất chất lượng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ; thì mặt bằng nhận thức về năng suất chất lượng còn thấp, chưa quen với các hoạt động cải tiến, chưa mạnh dạn đổi mới.

Các doanh nghiệp vẫn còn tâm lý e ngại khi làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước. Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cũng chưa thực sự minh bạch, giá thành sản phẩm bao gồm cả những chi phí không công khai nên doanh nghiệp rất ngại tham gia vào dự án và đây cũng là nguyên nhân gây ra những khó khăn trong việc đánh giá chỉ số đầu vào, chỉ số đầu ra khi đơn vị tư vấn cũng như cơ quan quản lý khảo sát và đánh giá hiện trạng doanh nghiệp.

Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, nguồn lực hạn chế, trang thiết bị sản xuất cũ, yếu kém về trình độ quản lý sản xuất nên chưa tin tưởng áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến NSCL.

Các doanh nghiệp còn hạn chế về trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất, trình độ quản lý sản xuất, quản lý kinh doanh, thiếu quy hoạch nguồn nhân lực chất lượng cao: Đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế về kỹ năng quản lý; đa số điều hành doanh nghiệp theo kinh nghiệm, thiếu kiến thức về quản lý, tổ chức, phát triển thương hiệu, chiến lược cạnh tranh, ứng dụng công nghệ thông tin. Một phần lực lượng lao động không qua đào tạo một cách hệ thống trước khi vào làm việc. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp chưa cao, thiếu lao động chất xám về chất lượng và số lượng, tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp chưa cao.

Sự tham gia của doanh nghiệp, chủ thể của hoạt động nâng cao NSCL còn chưa chủ động, tích cực. Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, chuyên gia NSCL tại địa phương còn hạn chế. Lĩnh vực nâng cao NSCL trong doanh nghiệp là một lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực này phải là người đa năng, có trình độ nhưng hiện tại số lượng chuyên gia tư vấn am hiểu cao và giàu kinh nghiệm thực tế về lĩnh vực này không nhiều. Các chuyên gia có đủ trình độ quản lý dự án cũng như có đủ khả năng tư vấn, đánh giá còn thiếu nên công tác tham mưu tư vấn và triển khai các dự án NSCL còn chậm, thụ động và lúng túng.

Công tác hỗ trợ chưa đi vào chiều sâu, thiếu đi tính chuyên nghiệp, hiệu quả còn hạn chế. Nguồn lực cho hoạt động nâng cao NSCL chủ yếu là từ ngân sách nhà nước và rất hạn hẹp (chủ yếu là nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học), kinh phí đối ứng của các doanh nghiệp rất hạn chế. Một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tuy đã được ban hành nhưng vẫn còn bất cập, chưa thực sự thông thoáng, doanh nghiệp khó tiếp cận đến nguồn vốn hỗ trợ do thủ tục phức tạp. Việc phối hợp, lồng ghép các nhiệm vụ thuộc dự án NSCL với các chương trình, dự án khác đang triển khai thực hiện tại địa phương còn hạn chế.

Có thể nói, Chương trìnhnâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá trọng điểm, chủ lực đã đạt được những mục tiêu, nội dung cơ bản đề ra, tuy vậy bên cạnh những thành tựu còn có những hạn chế cần khắc phục. Hy vọng, trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình giảm thiểu được những hạn chế này để hoàn thành xuất sắc mục tiêu, góp phần đưa khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng phát triển nhanh, mạnh và vững chắc, xứng đáng là trung tâm khoa học và công nghệ vùng duyên hải Bắc bộ trong tương lai.

Hương Giang