Chuyên mục

Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 239
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Doanh nghiệp Hải Phòng với phát triển bền vững (20/09/2016)

 

Khái niệm “Phát triển bền vững” (PTBV) xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường những năm 70 của thế kỷ 20, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc và được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.  Như vậy, PTBV chính là sự tổng hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm tối đa hóa đời sống phúc lợi của con người hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Doanh nghiệp là cấu thành quan trọng nhất của nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp phải thực sự bền vững mới tạo ra nền kinh tế bền vững. Ngoài các tiêu chí đánh giá mặt lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp như năng suất lao động, lợi nhuận, tăng trưởng…thì về mặt chất, doanh nghiệp bền vững được đánh giá trên các mặt: Quá trình sản xuất sạch và hiệu quả; Sản phẩm thân thiện môi trường; Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đầy đủ.

 

Thực trạng của các doanh nghiệp Hải Phòng

Theo khái niệm về PTBV nêu trên, thực trạng doanh nghiệp phát triển bền vững tại Hải Phòng cần được xem xét trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường.

Về kinh tế

Hải Phòng đã tích cực triển khai việc tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng. Những năm trước đây, Hải Phòng vốn nổi danh là một thành phố công nghiệp. Khói trắng nhà máy xi măng, một loạt nhà máy đóng tàu công suất lớn, các nhà máy cán thép, da giày, dệt may… một thời trở thành biểu tượng của Hải Phòng, mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động. Nhưng sự phát triển biến động của thị trường cùng những tác động của khủng hoảng, suy thoái kinh tế cả thế giới và trong nước buộc thành phố phải tự nhìn lại, đổi mới tư duy, cách làm. Tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng là lựa chọn tất yếu. Nhờ chủ động tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu ngành nghề, đổi mới xúc tiến và thu hút đầu tư, ban hành các lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên, khuyến khích và không khuyến khích đầu tư, tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển…, kinh tế Hải Phòng đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, ngày càng rõ hướng và hiệu quả cao.

Rõ nhất là dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cơ cấu kinh tế của thành phố, tiếp đó là công nghiệp và xây dựng, giảm tỷ trọng nông, lâm, thủy sản. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp chuyển dần từ các các ngành công nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp mới như sản xuất máy móc, thiết bị văn phòng, sản xuất mô tơ, máy phát, thiết bị điều khiển điện…Đặc biệt, Hải Phòng đang dần trở thành một trung tâm lớn sản xuất hàng điện tử, điện gia dụng. Khu Kinh tế Đình Vũ - Cát Hải với những ưu đãi đặc biệt, một loạt các Khu công nghiệp với hạ tầng đầy đủ và vượt trội đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn trong nước và nước ngoài. Trong đó có những tên tuổi nổi trội như Bridgestone, LG, GE, Fuji Xerox, Kyocera, Nipro Pharma… Công nghiệp đóng tàu, sản xuất sắt thép cũng dần chuyển đổi theo hướng phát triển mới, mang lại hiệu quả cao hơn. Thành phố thu hút được nhiều hơn các dự án công nghệ cao, công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. 

Nhờ đó, thời gian qua, kinh tế Hải Phòng duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, quy mô được mở rộng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng CNH-HĐH. Quy mô thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng gấp 1,8 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, trong đó thu nội địa tăng hơn 2 lần. Sản lượng hàng hóa qua cảng tăng cao, bình quân 15,09%/năm. Đáng chú ý là GDP đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8,67%/ năm; GDP năm 2015 ước gấp 1,52 lần năm 2010, GDP bình quân đầu người  đạt 2.857 USD /người, gấp 1,8 lần so với năm 2010. Tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước từ 2,7%  năm 2010 tăng lên 3,5% năm 2015.

Cụ thể, phân theo lĩnh vực kinh tế, ta thấy: dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cơ cấu kinh tế của thành phố (chiếm 52,49%), tiếp đó là công nghiệp và xây dựng (chiếm 38,35%), tỷ trọng nông, lâm, thủy sản tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm (chiếm 8,03%)  năm 2014.

Bảng 1: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố phân theo khu vực kinh tế

Đơn vị: %

TT

Ngành

2009

2010

2011

2012

2013

2014

 

Tổng số

100

100

100

100

100

100

1

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

10,92

10,00

9,70

9,13

8,53

8,03

2

Công nghiệp và xây dựng

37,45

37,15

36,92

36,90

36,83

38,35

3

Dịch vụ

48,68

49,38

49,90

51,18

53,95

52,49

4

Thuế nhập khẩu

2,95

3,47

3,48

2,79

0,69

1,13

(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2014)

Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hải Phòng là 8.795 doanh nghiệp tăng gấp 1,5 lần so với năm 2009 (5.647 doanh nghiệp) trong đó tập trung chủ yếu vào các ngành: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô (chiếm 36,9 %); Công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 17%); Vận tải kho bãi (chiếm 16,7%) ... Số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2009-2013 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2: Số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2009-2013

                                             Đơn vị: doanh nghiệp

TT

Ngành

2009

2010

2011

2012

2013

 

Tổng số

5.647

6.116

7.891

7.985

8.795

1

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

150

153

162

166

174

2

Khai khoáng

32

23

31

32

35

3

Công nghiệp chế biến, chế tạo

1.064

1.129

1.368

1.377

1.493

4

Sản xuất và phân phối điện

60

44

47

49

49

5

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải

25

25

36

37

40

6

Xây dựng

662

643

716

776

849

7

Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô

2.349

2.463

3.281

3.190

3.481

8

Vận tải kho bãi

685

936

1.214

1.277

1.466

9

...

...

...

...

...

...

(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2014)

Số lượng lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố tính đến 31/12/2013 là 346.520người, trong đó số lao động nữ chiếm 49,4% (171.191 người), tăng 14,5% so với năm 2009. Về cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế năm 2013: Số lượng lao động trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô chiếm 10,9 %; Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 56,2%; Vận tải kho bãi chiếm 11,3% ... Số lượng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2009-2014 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3: Số lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2009-2013 (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2014)

Đơn vị tính: người

TT

Ngành

2009

2010

2011

2012

2013

 

Tổng số

302.698

303.511

331.255

332.884

346.520

1

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.747

3.969

4.625

3.875

5.122

2

Khai khoáng

2.996

2.566

2.593

2.584

2.105

3

Công nghiệp chế biến, chế tạo

173.840

173.191

179.476

184.155

194.831

4

Sản xuất và phân phối điện

3.764

3.794

3.960

4.137

4.290

5

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải

3.333

3.419

3.736

3.855

4.038

6

Xây dựng

30.108

31.528

31.337

31.596

32.019

7

Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô

31.161

30.675

40.474

36.917

37.760

8

Vận tải kho bãi

35.488

35.230

38.028

38.631

39.456

9

...

...

...

...

...

...

Doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn Hải Phòng năm 2013 là 273.462 tỷ đồng, tăng 171% so với năm 2009, trong đó lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô chiếm 37,9 %; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng 39%; Vận tải kho bãi chiếm 10,9%.

Bảng 4: Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2009-2013

Đơn vị tính: triệu đồng

TT

Ngành

2009

2010

2011

2012

2013

 

Tổng số

159.732.818

186.827.482

273.804.725

257.388.483

273.462.562

1

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

259.503

282.312

301.901

359.211

381.071

2

Khai khoáng

419.244

278.522

382.160

607.601

603.697

3

Công nghiệp chế biến, chế tạo

67.024.077

82.263.165

99.309.647

102.352.508

106.722.808

4

Sản xuất và phân phối điện

2.683.496

3.430.947

6.118.924

8.533.946

9.161.715

5

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải

403.498

537.913

656.427

899.657

891.040

6

Xây dựng

7.877.168

9.753.492

11.394.371

12.676.037

12.792.344

7

Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô

58.396.646

65.199.946

119.569.525

97.826.207

103.743.818

8

Vận tải kho bãi

18.381.403

20.725.948

29.131.316

26.333.007

29.937.888

9

...

...

...

...

...

...

(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2014)

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2009-2013 cho thấy, năm 2013 có 54,33% doanh nghiệp có lãi; 30,18% doanh nghiệp lỗ và 15,5 % doanh nghiệp không lãi không lỗ. Như vậy là vẫn còn nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả.

Bảng 5: Số doanh nghiệp phân theo lãi, lỗ  giai đoạn 2009-2013

 

Lãi

Lỗ

Không lãi, không lỗ

Lãi bình quân 1 DN (triệu đồng)

Lỗ

bình quân 1 DN (triệu đồng)

Số DN lãi

Tổng số lãi (triệu đồng)

Số DN lỗ

Tổng số lỗ (triệu đồng)

Tổng số doanh nghiệp

Tỷ lệ %

Tổng số

Tỷ lệ %

Tổng số

Tỷ lệ %

2009

3.286

58,19

5.920.309

2.186

38,71

-2.252.678

175

3,10

1.802

-1.031

2010

3.520

57,55

5.842.658

2.492

4075

-4.217.455

104

1,70

1.660

-1.692

2011

4.898

62,07

6.425.580

2.825

35,80

-8.340.972

168

2,13

1.312

-2.953

2012

2.944

36,87

8.162.034

1.523

19,07

-7.706.427

3.518

44,06

2.772

-5.060

2013

4.778

54,33

9.894.984

2.654

30,18

-5.378.045

1.363

15,50

2.071

-2.026

(Nguồn: Khảo sát các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2014 - cục Thống kê thành phố Hải Phòng)

Mức thu nhập, tiền lương bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động của Hải Phòng năm 2014 là khoảng 3,9 triệu đồng/người/tháng; năm 2015 ước đạt 4,3 triệu đồng/người/tháng. Đây là mức thu nhập bình quân ở mức độ trung bình khá, tuy nhiên mức thu nhập này cũng chỉ đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của bản thân người lao động, chưa thể đảm bảo và nâng cao đời sống cho các thành viên khác trong gia đình của họ.

Bảng 6: Thu nhập bình quân của người lao động trong doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2015

Năm

2011

2012

2013

2014

Ước 2015

Tiền lương bình quân người/ tháng (đồng)

3,295,342

3,437,521

3,600,687

3,893,997

4,286,839

 Trong đó:

 

 

 

 

 

 - Doanh nghiệp nhà nước

3,489,184

3,586,821

4,176,136

4,378,693

4,610,760

 - Doanh nghiệp có vốn đầu tư NN

3,578,350

3,665,562

3,748,422

3,956,308

4,073,414

 - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

3,145,321

3,319,435

3,412,524

3,765,849

3,989,674

(Nguồn: Sở lao động thương binh và xã hội Hải Phòng)

Về xã hội

Hải Phòng cũng đã triển khai thực hiện thực hiện các quy định của Pháp luật về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT). Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cần phải có những biện pháp quyết liệt hơn nữa để nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong thực thi pháp luật, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với lao động. Tình hình đóng BHXH của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Hải Phòng thể hiện ở bảng sau:

Bảng 7: Tình hình đóng BHXH của các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2015

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

2011

2012

2013

2014

2015

Số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn

Doanh nghiệp

7.891

7.912

7.985

8.500

8.700

Số doanh nghiệp ký kết thoả ước lao động tập thể

Doanh nghiệp

120

116

98

102

110

Số doanh nghiệp xây dựng thang, bảng lương 

Doanh nghiệp

1.011

475

323

310

305

Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp

Người

331.255

335.826

340.023

350.000

363.000

Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc,

Trong đó:

Người

262.063  

263.584  

268.148  

273.880  

288.969

 - Doanh nghiệp nhà nước

Người

68.127  

61.437  

 58.148  

55.035

57.447

 - Doanh nghiệp có vốn đầu tư NN

Người

57.272  

65.113  

70.637  

76.630

78.899

 - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Người

76.735  

 76.325  

77.900  

79.508

89.174

 - Đơn vị hành chính sự nghiệp

Người

47.785  

 49.057  

50.776  

52.555

56.731

 Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Người

2.604  

3.954  

4.677  

4.491  

6.718  

(Nguồn: Sở lao động thương binh và xã hội Hải Phòng)

Bảng trên cho thấy tỷ lệ số lao động tham gia đóng BHXH bắt buộc của các doanh nghiệp chiếm khoảng gần 80% số lao động làm việc. Điều đó cho thấy các doanh nghiệp đã có ý thức trong việc thực hiện trách nhiệm của mình đối với người lao động. Tuy nhiên, một vấn đề khá nóng và gây bức xúc cho dư luận hiện nay là việc nợ đọng, dây dưa kéo dài việc đóng BHXH của một số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.

Theo Bảo hiểm xã hội Hải Phòng, tính đến 31/5/2015, tổng số tiền mà các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn thành phố nợ tiền bảo hiểm (bao gồm BHXH, BHYT, bảo hiểm tự nguyện - BHTN) lên tới 332,096 tỷ đồng. Trong đó có không ít doanh nghiệp nợ trên 10 tỷ đồng. Trừ một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, phá sản, chuyển đổi… thì vẫn còn hiện tượng chây ỳ, trốn tránh việc thực hiện đóng bảo hiểm cho người lao động. Thực tế này là vấn đề nan giải đối với ngành bảo hiểm và xâm hại nghiêm trọng tới quyền lợi của người lao động.

Theo thống kê của BHXH thành phố, trong số hơn 332 tỷ đồng tiền nợ bảo hiểm (bao gồm BHXH, BHYT, BHTN) tính đến hết tháng 5-2015 thì có tới 247,971 tỷ đồng là của các đơn vị, doanh nghiệp nợ bảo hiểm từ 3 tháng trở lên. Cụ thể: doanh nghiệp ngoài quốc doanh nợ 113,065 tỷ đồng; doanh nghiệp nhà nước nợ 121,827 tỷ đồng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nợ 5,039 tỷ đồng; Hành chính sự nghiệp nợ 3,937 tỷ đồng; khối hợp tác xã nợ 1,245 tỷ đồng; hội nghề nghiệp, hộ kinh doanh cá thể nợ 1,203 tỷ đồng…

Về môi trường

 

 

Hải Phòng là một trong số ít thành phố có mức hỗ trợ tương đối cao cho các doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000. Theo Đề án Xây dựng tiêu chí đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Hải Phòng giai đoạn 2010-2020, hàng năm, ngân sách địa phương sẽ dành khoảng 5,5 tỷ để hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý môi trường (ISO 14000), tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn. Theo đó, mỗi doanh nghiệp khi xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000 sẽ được hỗ trợ 60 triệu đồng.

Mặc dù được triển khai từ năm 2009, nhưng theo thống kê tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000 là rất thấp. Đến năm 2015, toàn thành phố mới có khoảng 37 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000. Số doanh nghiệp được cấp chứng chỉ môi trường hầu hết tập trung ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc ngành xuất khẩu. Trong khi đó, rất nhiều lĩnh vực sản xuất có lợi thế để áp dụng, nhưng chưa có doanh nghiệp nào tham gia như lĩnh vực cảng biển; vận tải…

 

Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000 là công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực kiểm soát đầu vào và quá trình sản xuất để giảm thiểu chất thải, chủ động phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Áp dụng ISO 14000 không chỉ nâng cao hình ảnh doanh nghiệp trong mắt khách hàng và người tiêu dùng mà còn giúp doanh nghiệp vượt qua những rào cản kỹ thuật khi thâm nhập thị trường nước ngoài.

Tuy nhiên, việc áp dụng tiêu chuẩn này đang gặp nhiều khó khăn. Một phần là do ý thức của doanh nghiệp, một phần là do chi phí xây dựng hệ thống hợp tiêu chuẩn khá cao. Muốn thực hiện ISO 14000, doanh nghiệp cần có cơ sở hạ tầng đáp ứng các yêu cầu để bảo đảm công tác quan trắc môi trường. Đây là khoản đầu tư không nhỏ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó xuất hiện tình trạng nếu không thật sự cần thiết hoặc bắt buộc thì doanh nghiệp không áp dụng. Bên cạnh đó, chi phí cho việc vận hành các hệ thống xử lý nước thải, khí thải và bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác môi trường cũng gia tăng chi phí cho doanh nghiệp. Để có lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh về giá cả, nhiều doanh nghiệp phải gác vấn đề bảo đảm môi trường sang một bên. Một số doanh nghiệp mặc dù có hệ thống xử lý nước thải, khí thải nhưng không vận hành thường xuyên mà chỉ vận hành khi có đợt kiểm tra của cơ quan chức năng.

Qua nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp đã có ý thức về tầm quan trọng trong công tác đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên các doanh nghiệp tham gia lập báo cáo đánh giá tác động môi trường còn chiếm tỷ lệ thấp. Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng, từ năm 2012 đến tháng 10 năm 2015 có 156  báo cáo đánh giá tác động môi trường và 61 đề án bảo vệ môi trường chi tiết. Đa số các doanh nghiệp không tự mình tiến hành đánh giá tác động mà thuê các cơ quan dịch vụ khoa học và công nghệ tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trong khi đó các đơn vị tư vấn trên địa bàn thành phố Hải Phòng không nhiều, trình độ không đồng đều và năng lực của đội ngũ chuyên gia còn nhiều hạn chế. Vì vậy chất lượng các báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa cao. Thể hiện ở việc chưa dự báo được các tác động do hoạt động dự án gây ra sau khi dự án đi vào hoạt động.

Hoạt động quan trắc môi trường đã được các doanh nghiệp tham gia tương đối đầy đủ. Thực tế còn nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hải Phòng chưa thực hiện quan trắc. Tuy nhiên, đối với các cơ sở đã tiến hành quan trắc môi trường thì các hoạt động này chỉ mang tính chất đối phó. Hầu hết cán bộ khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp không có kiến thức về lĩnh vực này. Các doanh nghiệp có ý thức về hoạt động quan trắc thì thuê các cơ quan đo kiểm môi trường thực hiện. Chỉ khi nào có các đợt thanh tra tiến hành kiểm tra hoặc liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá và nguyên liệu phục vụ sản xuất thì các doanh nghiệp mới tiến hành quan trắc với mục đích được cấp phép đầu tư. Sau khi đã được cấp phép thì hầu như các doanh nghiệp không tiến hành quan trắc nữa.

Phần lớn các doanh nghiệp còn chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải và nếu có thì lại vận hành không hiệu quả.

Tình hình quản lý chất thải rắn cũng không có dấu hiệu khả quan hơn. Đối với chất thải rắn thông thường thải loại ra trong quá trình sản xuất, được các doanh nghiệp hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị vận chuyển về bãi rác chung của thành phố, sau đó được xử lý bằng các biện pháp thiêu đốt hay chôn lấp tuỳ theo tính chất của rác thải. Vì vậy không có những vấn đề nghiêm trọng về môi trường. Tuy nhiên vấn đề đáng quan tâm ở đây là vấn đề về chất thải nguy hại, việc một số doanh nghiệp thiếu hệ thống xử lý riêng đối với chất thải nguy hại làm tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.

Làm gì để phát triển các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn phát triển bền vững?

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam càng sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển bền vững ngày càng cao. Với thành phố Hải Phòng, để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, khi thực hiện chương trình phát triển các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn phát triển bền vững, cần phải giải quyết những vấn đề sau:

Cùng với việc tích cực tuyên truyền, phổ biến các vấn đề liên quan đến phát triển doanh nghiệp bền vững, cần chú trọng thúc đẩy phát triển các nguồn lực.Cụ thể là:

Nâng cao chất lượng lao động, gồm: trình độ học vấn liên quan khả năng tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ, nâng cao kỹ năng tay nghề của người lao động. Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng khả năng và năng lực của lực lượng lao động trong việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ sạch, chất lượng cao là yếu tố đóng góp rất quan trọng làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Trong điều kiện các doanh nghiệp sản xuất đã đầu tư với lượng vốn khổng lồ (đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cơ khí, đóng tầu, lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, lĩnh vực sản xuất điện…) cần đào tạo và nâng cao được trình độ của người lao động sao cho người lao động phải làm chủ được những chức năng hoạt động của các trang thiết bị hiện đại để có thể nâng cao được năng suất lao động, sản xuất được các sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao.

Khuyến khích và tạo điều kiện để người lao động nâng cao trình độ lành nghề của mình qua đào tạo, đào tạo lại (đào tạo giám đốc, đào tạo các nhà quản lý, quản đốc, đào tạo nhân lực chất lượng cao,...).

Thực hiện tốt công tác đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Mở các lớp đào tạo, hỗ trợ cho người lao động, tạo điều kiện cho người lao động ở các doanh nghiệp có thêm cơ hội học tập, công tác tổ chức đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp cần thực hiện một cách bài bản.

Tối ưu hoá mọi quyết định đầu tư của mình, trong đó có cả đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực. Để đầu tư đào tạo nguồn nhân lực thành công, doanh nghiệp cần có những chiến lược, triết lý riêng, phù hợp với điều kiện của mỗi doanh nghiệp. Sự thành công của doanh nghiệp chỉ có thể có được nếu doanh nghiệp có sự khác biệt về chiến lược đầu tư và kinh doanh.

Thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, đổi mới, cải tiến quy trình sản xuất, công nghệ quản lý tiên tiến (hệ thống, công cụ quản lý tiên tiến ...) yếu tố này bao hàm các hoạt động như đổi mới, nghiên cứu phát triển, thái độ làm việc tích cực, hệ thống tổ chức... tác động làm tăng và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Thay đổi cơ cấu vốn: tăng cường đầu tư vào lĩnh vực công nghệ tiên tiến, lĩnh vực có năng suất cao, sản phẩm thân thiện với môi trường; tiếp cận được các nguồn vốn từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ,  quỹ bảo vệ môi trường... 

Đầu tư cho công tác nghiên cứu công nghệ mới, cải tiến công nghệ để cung cấp cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong ngành luyện kim.

Tiếp đó, cần cải thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời phát triển thị trường. Tiêu biểu như: Xây dựng và phát triển hệ thống phân phối và hỗ trợ phân phối ở trong nước và nước ngoài với các hình thức thích hợp như: chi nhánh công ty, đại diện ủy thác, công ty liên danh, văn phòng đại diện thường trú, văn phòng liên lạc …  Tổ chức công tác thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu với phương châm "kịp thời, nhanh chóng và chính xác, có hệ thống và có phân tích, dự báo"; dành nguồn lực thích đáng về vốn, công nghệ, cán bộ cho hoạt động này. Tổ chức lại hệ thống doanh nghiệp trong lĩnh vực nông sản, gắn sản xuất - chế biến với thị trường, bên cạnh các cơ sở chế biến cần có các xí nghiệp cung ứng, dịch vụ. Các doanh nghiệp áp dụng mô hình sản xuất kinh doanh: "sản xuất - mua gom - chế biến - tiêu thụ" đã được một số doanh nghiệp xuất khẩu áp dụng thành công với sự hỗ trợ, chính sách khuyến khích của Nhà nước.

PTBV là nhu cầu tất yếu và là một thách thức lớn trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ở những nước đang phát triển, thực hiện công nghiệp hoá như nước ta. Do đó, cùng với hỗ trợ từ phía nhà nước, các doanh nghiệp cần tự ý thức được giá trị của PTBV và nỗ lực thực hiện đúng những tiêu chí phục vụ PTBV để đưa doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế - xã hội thành phố nói chung phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Thủy Hiền