Chuyên mục

Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 469
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Góp phần nâng cao hoạt động của các tổ chức KH&CN (16/09/2016)

Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đến năm 2020 được coi là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với những yêu cầu to lớn đặt ra cho sự phát triển của KH&CN. Thành phố Hải Phòng với vai trò là cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắcsẽ càng phải chú trọng đầu tư mạnh cho phát triển KH&CN, hình thành nền tảng kinh tế tri thức,qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư, tái cấu trúc kinh tế, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế thành phố. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển của KH&CN thành phố là các tổ chức KH&CN.

Góc nhìn từ thực tiễn

Tính đến tháng 12/2015, Hải Phòng có 70 tổ chức có hoạt động KH&CN (trong đó có 8 đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn thành phố, 6 tổ chức KH&CN theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, số còn lại là các đơn vị có hoạt động KH&CN, bao gồm các đơn vị sự nghiệp của các ngành, các tổ chức chính trị xã hội có hoạt động KH&CN mang tính chất kiêm nhiệm và của các doanh nghiệp) và 19 trường đại học, cao đẳng (trong đó có 4 trường đại học, bao gồm: Đại học Y - Dược và Đại học Hàng hảiViệt Nam, Đại học Hải Phòng và Đại học Dân lập Hải Phòng).

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các tổ chức KH&CN trên địa bàn, ngành KH&CN đã có những điều chỉnh, sắp xếp nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức này, như: Thực hiện chuyển đổi hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với 5 tổ chức KH&CN công lập trực thuộc Sở (Việc chuyển đổi bước đầu đã tạo cơ chế tự chủ thông thoáng, nâng cao tính tự chủ, chủ động của các tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động); Củng cố hoạt động của 19 tổ chức KH&CN chuyên ngành về biển, kinh tế biển và môi trường, các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố; Thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp KH&CN thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền, các Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập, Nghị quyết của Thành ủy, Hội đồng nhân dân… Tính riêng về doanh nghiệp KH&CN, đến hết năm 2015, Sở KH&CN đã cấp Giấy chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN cho 06 doanh nghiệp,  hoàn thành việc ươm tạo và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN được sở hữu, sử dụng hợp pháp hoặc sở hữu hợp pháp công nghệ để trực tiếp sản xuất thuộc 4 lĩnh vực: công nghệ thông tin - truyền thông (1 doanh nghiệp); công nghệ sinh học (3 doanh nghiệp); vật liệu mới (1 doanh nghiệp);công nghệ bảo vệ môi trường (1 doanh nghiệp): Công ty cổ phần thương mại và sản xuất Ban Mai (9/2011) với 2 sản phẩm; Công ty cổ phần nông nghiệp kỹ thuật cao Hải Phòng (6/2012) với 1 sản phẩm; Công ty công nghệ và dịch vụ viễn thông Nam Việt (tháng 1/2013) với 4 sản phẩm; Công ty cổ phần cơ khí và vật liệu xây dựng Thanh Phúc (tháng 10/2013) với 2 sản phẩm; Công ty cổ phần y dược Khánh Thiện (tháng 2/2014) với 1 sản phẩm; Công ty cổ phần Sơn HP (tháng 9/2015) với 6 sản phẩm. Có 3 doanh nghiệp hoạt động đem lại hiệu quả cao, tỷ trọng doanh thu của các sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả KH&CN trên tổng doanh thu đạt yêu cầu, được hưởng các ưu đãi, được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

Có thể nhận thấy, các tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố đến nay phát triển mạnh, đã và đang chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nhiều đơn vị đã được sắp xếp, củng cố đầu tư đổi mới, hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao năng lực hoạt động, một số đơn vị đã đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ mới, nhất là các cơ sở của Trung ương, các trường đại học, cao đẳng.

Mặc dù đạt được ít nhiều thành tích, tuy nhiên, xét một cách tổng thể, các tổ chức hoạt động KH&CN của thành phố tuy nhiều về số lượng nhưng nhìn chung chất lượng thấp, nhiều cơ sở không đủ điều kiện về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất để đảm đương những chức năng được giao, năng lực hoạt động KH&CN còn yếu. Cơ sở vật chất kỹ thuật của phần lớn các cơ sở còn nghèo nàn, chắp vá, ít được quan tâm đầu tư nên thiết bị thiếu, lạc hậu, không đồng bộ, cơ sở hạ tầng kém, năng lực triển khai chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Trong hoạt động nghiên cứu, việc triển khai tỷ lệ các đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ còn ít, chưa thực sự là những lực lượng chủ đạo về nghiên cứu KH&CN của thành phố. Tiềm năng hoạt động KH&CN của các trường Đại học, cao đẳng tuy tương đối dồi dào (nhất là về nhân lực KH&CN) nhưng chưa được khai thác.

Bên cạnh đó, tính mạng lưới, quy hoạch của hệ thống còn yếu, nhiều đơn vị có chức năng nhiệm vụ chồng chéo, trong khi đó một số lĩnh vực quan trọng như công nghiệp, công nghệ thông tin lại rất yếu và thiếu. Số lượng tổ chức KH&CN tập trung vào một số ngành chính gồm: nông nghiệp thủy sản, môi trường. Nhiều lĩnh vực, một số ngành còn hạn chế, chiếm tỷ lệ thấp: Y dược, khoa học xã hội nhân văn. Các lĩnh vực hoạt động đặc trưng của Hải Phòng như hàng hải, công nghiệp chiếm tỷ lệ không cao.

Với những hạn chế nêu trên, có thể nói: Hệ thống hoạt động KH&CN chưa thực sự là những cơ quan tư vấn mạnh về KH&CN, chưa thực sự là cầu nối giữa KH&CN với sản xuất và đời sống, đặc biệt trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ.

Viện Y học biển Việt Nam là nơi đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho y tế biển đảo

Ảnh: Đỗ Hiền

Chính sách và nhận thức

Các tổ chức KH&CN đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhận thức được vấn đề này, Nghị quyết 08 của Thành uỷ đã đặt ra nhiệm vụ củng cố và tăng cường tiềm lực của các tổ chức KH&CNcủa thành phố với các nội dung sau:

Một là, củng cố, sắp xếp lại và phát triển các tổ chức KH&CNcông lập của thành phố theo hướng mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có những cơ sở trọng điểm để đủ sức giải quyết những nhiệm vụ KH&CNcủa ngành, lĩnh vực; bảo đảm chức năng nhiệm vụ không chồng chéo và tính mạng lưới, hệ thống để phát huy sức mạnh. Tập trung đầu tư xây dựng một số đơn vị hoạt động KH&CNđủ năng lực nghiên cứu, tiếp thu chuyển hoá kết quả khoa học và công nghệ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới (Đầu tư xây dựng, tăng cường và nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu phát triển, dịch vụ KH&CN tổng hợp của thành phố, Tập trung củng cố, kiện toàn nâng cao năng lực các tổ chức KH&CN chuyên ngành trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm, có sức lan tỏa quy mô Vùng của thành phố).

Hai là, hình thành các khu hoặc vùng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao thích hợp với Hải Phòng. Củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu, vùng, cơ sở ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; Tập trung cho lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá và công nghệ vật liệu mới. Trước mắt, tập trung điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng Khu nghiên cứu, chuyển giao và ươm tạo công nghệ theo hướng xây dựng Khu nghiên cứu, đào tạo, trình diễn và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp cho phù hợp với tình hình mới, xúc tiến xây dựng Khu công nghiệp công nghệ kỹ thuật cao, Khu công nghệ thông tin tập trungcủa thành phố.

Ba là, tăng cường tiềm lực KH&CNcủa các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố, chú ý khai thác năng lực KH&CNcủa các tổ chức, các trường đại học của Trung ương.

Bốn là, thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp thành lập tổ chức nghiên cứu và phát triển trực thuộc.

Chính sách là thế, tuy nhiên, nếu tự thân các tổ chức KH&CN không nhận thức được vai trò, sứ mệnh của mình, cũng như chậm đổi mới để phù hợp với tình hình thực tiễn, phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, sự phát triển vượt bậc của KH&CN, chắc chắn các tổ chức KH&CN sẽ tự đánh mất cơ hội của mình. Do đó, bản thân các tổ chức KH&CN cũngcầntự hoàn thiện và triển khai hoạt động chuyên môn một cách hiệu quả thông qua việc chuyển đổi cơ chế quản lý và hoạt động cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng chiến lược kế hoạch phát triển phục vụ triển khai các định hướng phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội của thành phố; Nâng cao năng lực hoạt động về cơ sở vật chất kỹ thuật, về nhân lực KH&CN; Bám sát yêu cầu của thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống; Chú trọng hoạt động chuyển hoá KH&CN.

Bất cứ một lĩnh vực, hoạt động nào trong sự hình thành và phát triển cũng sẽ có những bất cập, những lỗ hổng. Việc tìm ra những hạn chế và từng bước khắc phục nó là một bài toán khó, cần sự chung tay của cả hệ thống, các ngành, các cấp trong những lĩnh vực cụ thể. Hi vọng rằng, với định hướng cụ thể, chủ trương đúng đắn của thành phố và sự chuyển mình mạnh mẽ của các tổ chức KH&CN nói riêng, hoạt động KH&CN nói chung, ngành KH&CN sẽ ngày càng gặt hái được nhiều thành công và hoàn thiện mình hơn nữa, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội chung của thành phố.

Thu Nga