Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 441
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Khoa học xã hội và nhân văn Hải Phòng – Thành tựu và định hướng (09/10/2015)

TS. Nguyễn Xuân Quang

Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Hải Phòng

1. Những thành tựu

Ngược dòng thời gian, tháng 10/1986, Hải Phòng tiến hành Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX nhằm đề ra phương hướng và nhiệm vụ phát triển thành phố trong thời kỳ mới. Đó là đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm, đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền đối với các hoạt động kinh tế- xã hội. Đặc biệt, lần đầu tiên, trong nhiều thập kỷ, vai trò của khoa học công nghệ đã được quan tâm, trong đó có lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Lễ ra mắt Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn (31/12/1998)

Thành phố bắt tay thực hiện Chương trình xây dựng con người mới, đồng thời triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học xã hội và nhân văn, trong đó tập trung đề xuất một số mô hình, giải pháp đổi mới hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá - tư tưởng, quản lý nhà nước, giáo dục - đào tạo, quốc phòng an ninh, công tác tôn giáo. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến các lĩnh vực giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, hoạt động văn hóa, xã hội, nghiên cứu lịch sử, giáo dục thanh, thiếu niên, phòng chống tội phạm… bắt đầu được triển khai.

Cũng trong năm 1986, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật thành phố (đơn vị tiền thân của Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng) đã hình thành 3 tổ chuyên viên quản lý các hoạt động nghiên cứu, triển khai khoa học và kỹ thuật, trong đó có một tổ chuyên quản lý các hoạt động về khoa học xã hội. Từ năm 1987, nhiều ban, ngành, đơn vị trong các cơ quan Đảng và chính quyền thành phố như Hội đồng Lịch sử, Cục Thống kê, Sở Tư pháp, Sở Văn hóa, Ban Tổ chức Thành ủy... tham gia đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học xã hội với nội dung phong phú hơn, chuyên sâu hơn, bám sát vào yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội  của thành phố.

Năm 1988, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật thành phố được đổi tên thành Ban Khoa học và Kỹ thuật và thành lập Phòng Khoa học xã hội với chức năng giúp Trưởng Ban Khoa học và Kỹ thuật quản lý các hoạt động khoa học xã hội của thành phố. Phòng có chức năng nghiên cứu đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp đẩy mạnh hoạt động khoa học xã hội, hướng dẫn xây dựng, tổng hợp và quản lý các hoạt động khoa học xã hội, đóng góp ý kiến và đôn đốc thực hiện các biện pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ và tổ chức quản lý công tác khoa học xã hội ở các ngành, tham gia quản lý, quy hoạch đội ngũ cán bộ khoa học xã hội.

Vào thời kỳ này, nhiều công trình nghiên cứu về khoa học xã hội nhân văn được xuất bản. Đó là Địa chí Hải Phòng tập I (1990); Lược khảo đường phố Hải Phòng (1993); Những ông nghè đất Cảng (1994); Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Tân Trào (1995); Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử (1996)...

Tuy nhiên, khoa học xã hội và nhân văn của Hải Phòng trong 10 năm hoạt động vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống kinh tế- xã hội đặt ra.  Nhiều vấn đề nảy sinh trong công cuộc đổi mới chưa có luận cứ khoa học vững chắc để giải đáp, thiếu những dự báo khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Nhận thức rõ vai trò đóng góp của khoa học công nghệ với sự nghiệp đổi mới của thành phố, từ năm 1996 đến nay, khoa học xã hội và nhân văn đã có bước phát triển quan trọng, thành phố đã triển khai 99 nhiệm vụ khoa học xã hội và nhân văn (chiếm 17,9% trong tổng số nhiệm vụ KH&CN cấp thành phố). Các kết quả nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn đãkịp thời cung cấp những luận cứ khoa học để hình thành các chủ trương và chính sách của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố.

Bên cạnh đó, khoa học xã hội và nhân văn đã triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, phục vụ cho việc xây dựng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố. Đồng thời đề xuất xây dựng các quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu  phát triển thành phố giai đoạn 2006-2010.

2. Định hướng phát triển

  Bước vào thời kỳ phát triển mới, Khoa học xã hội và nhân văn có nhiều cơ hội thuận lợi để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội của thành phố. Trong giai đoạn 2014-2020, định hướng hoạt động của Khoa học xã hội và Nhân văn Hải Phòng tập trung  giải quyết 5 nhóm vấn đề chính. Đó là:

Về chính trị:

- Nghiên cứu cung cấp những luận cứ khoa học góp phần nâng cao chất lượng các quyết định, chủ trương và công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu luận cứ phục vụ xây dựng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV (vào năm 2015) và XVI (vào năm 2020)

- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến củng cố và xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường và nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân trước yêu cầu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố.

Về kinh tế:

- Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách, mô hình, giải pháp phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững; thực hiện giải pháp điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; các giải pháp về phát triển kinh tế tri thức; giải pháp nâng cao sự đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào GDP thành phố.

- Nghiên cứu luận cứ, các giải pháp và mô hình tập trung phát triển các ngành dịch vụ chủ lực có hàm lượng chất xám cao, có lợi thế và tầm ảnh hưởng cao trong nước như: các hoạt động dịch vụ logistics; du lịch biển; phát triển mạng lưới thương mại xây dựng thương hiệu; hiện đại hoá và mở rộng các dịch vụ tài chính, ngân hàng; hiện đại hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ bưu chính, viễn thông. Nghiên cứu các giải pháp huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế dịch vụ.

Về xây dựng nông thôn mới:

- Nghiên cứu xây dựng các luận cứ khoa học, đề xuất các cơ chế, chính sách phục vụ xây dựng nông thôn mới như: phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá; phát triển công nghiệp hỗ trợ, phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn; huy động các nguồn lực xã hội tham gia xây dựng nông thôn mới; tích tụ ruộng đất, sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá.

- Nghiên cứu xây dựng và áp dụng các mô hình kinh tế - xã hội phục vụ xây dựng nông thôn mới trong quy hoạch, kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng, cảnh quan nông thôn mới gắn với bảo tồn các giá trị truyền thống của nông thôn mới Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo đảm dân chủ và an sinh xã hội nông thôn mới; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn mới; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị nông thôn mới.

- Nghiên cứu hoàn thiện mô hình nông thôn mới thành phố Hải Phòng. Nghiên cưú các giải pháp phát triển các ngành kinh tế phi nông nghiệp (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn). Nghiên cứu các giải pháp áp dụng, nhân rộng mô hình “ Cánh đồng mẫu lớn”.

Về văn hoá, xã hội:

- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đổi mới cơ chế quản lý và thực hiện xã hội hoá. Phát triển văn hoá, xã hội, giáo dục - đào tạo, thể thao, chăm sóc và bảo vệ nâng cao sức khoẻ nhân dân; xây dựng con người Hải Phòng.

- Nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, khắc phục mặt trái của đô thị hoá nhanh và kinh tế thị trường; phát triển văn hoá, xã hội khu vực nông thôn.

- Nghiên cứu luận cứ xây dựng và phát triển văn hoá, văn minh đô thị đáp ứng yêu cầu của đô thị loại 1, đô thị trung tâm cấp quốc gia.

- Nghiên cứu khai thác những giá trị truyền thống lịch sử, văn hoá tốt đẹp của Hải Phòng.

Về quốc phòng và an ninh: Nghiên cứu các luận cứ và giải pháp gắn phát triển kinh tế- xã hội với nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, quản lý bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo.

Trong xu thế hội nhập và phát triển, muốn phát huy được những tiềm năng, lợi thế để Hải Phòng phát triển nhanh và bền vững, thành phố cần quan tâm nhiều hơn nữa phát triển khoa học xã hội và nhân văn. Trước hết cần xác định lại vị trí, vai trò của Khoa học xã hội và nhân văn trong việc tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIV trên các lĩnh vực kinh tế; văn hoá- xã hội, xây dựng đảng, xây dựng chính quyền; củng cố an ninh- quốc phòng. Đặc biệt, Khoa học xã hội và Nhân văn phải tham gia xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn để “xây dựng và phát triển đô thị Hải Phòng theo hướng đô thị cảng biển xanh, văn minh, hiện đại” trong Kết luận số 72-KL/TW ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 05-8-2003 của Bộ Chính trị khoá IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Về thực chất, phải coi khoa học xã hội và nhân văn là công cụ quan trọng trong hoạch định chính sách, quy hoạch phát triển thành phố. Xây dựng và phát triển khoa học xã hội và nhân văn Hải Phòng đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của thành phố, đạt tầm quốc gia không chỉ là nhiệm vụ riêng có của ngành khoa học công nghệ mà là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành trước yêu cầu đổi mới hiện nay.