Chuyên mục

Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 45
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Mở rộng hợp tác để nâng cao hiệu quả ứng dụng và chuyển giao KH&CN (16/09/2016)

Nghị quyết số 08-NQ/TU của Thành ủy, Nghị quyết số 08/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố nhấn mạnh quan điểm phát triển KH&CN, trong đó nêu rõ: lấy ứng dụng là chính, tập trung giải quyết những nhiệm vụ quan trọng của các ngành, các cấp, góp phần vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, tạo các luận cứ cho việc phát triển theo định hướng của thành phố trong các lĩnh vực. Quan điểm trên phù hợp với xu hướng phát triển chung của thành phố trong điều kiện tiềm lực về nghiên cứu còn hạn chế.

Bám sát quan điểm chỉ đạo của thành phố tại quyết định số 1338/QĐ-UBND ngày 26/6/2014, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thành phố Hải Phòng được thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 đơn vị là Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng KH&CN và Liên hiệp khoa học - sản xuất sản phẩm kỹ thuật cao. Theo đó, Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở KH&CN, hoạt động theo khoản 4, điều 4 Nghị định 115 của chính phủ (quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN). Trung tâm có chức năng tổ chức các hoạt động ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng, chuyển hóa, sản xuất, kinh doanh dịch vụ KH&CN trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ môi trường và năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới.

Với vai trò là cầu nối cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn, Trung tâm đã có nhiều hoạt động kết nối với các Viện, trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ KH&CN, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam... để phối hợp chuyển giao - tiếp nhận các đề tài, dự án, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của thành phố. Việc tiếp nhận các quy trình sản xuất từ các Viện, trường trên cả nước và xây dựng các dự án ứng dụng linh hoạt trong điều kiện thực tiễn của Hải Phòng đang là hướng đi thiết thực được đánh giá cao, đặc biệt là nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của bà con nông dân các xã.

Từ năm 2013 đến nay, Trung tâm đã và đang triển khai 7 nhiệm vụ Nghiên cứu Khoa học và phát triển công nghệ, trong đó có 3 nhiệm vụ đã được Hội đồng KH&CN thành phố tổ chức đánh giá, bao gồm: Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất sản phẩm Compost maker xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại Hải Phòng”. Đây là dự án phối hợp với Viện Môi trường Nông nghiệp - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, hoàn thành năm 2014, nghiêm thu loại xuất sắc.Dự án ứng dụng: Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật sản xuất cây giống hoa Cát Tường (Eustoma grandiflorum (Raf). Shinn) và thử nghiệm trồng hoa thương phẩm tại Hải Phòng” đánh giá nghiệm thu năm 2015, chuyển giao từ Viện Sinh học Nông nghiệp - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.Dự án: Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất, sử dụng chế phẩm probiotic phục vụ chăn nuôi lợn, gà tại Hải Phòng vừa hoàn thành tháng 6/2016 là dự án phối hợp với Viện Công nghệ sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN là đơn vị tiếp nhận các quy trình chuyển giao từ các Viện, trường đến với người nông dân

Bên cạnh đó, có 5 nhiệm vụ dự kiến sẽ được triển khai trong năm 2016: Dự án xây dựng mô hình nuôi trồng nấm đông trùng hạ thảo Cordyceps Militaris có giá trị dược liệu và thương mại cao trên môi trường nhân tạo và giá thể nhộng tằm tại Hải Phòng; Dự án: Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật nhân giống 2 giống lan dược liệu ( lan Kim Tuyến Anoectochilus và Lan Thạch Hộc tía Dendrrobium oficinale kimura et Migo); Dự án: Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ xử lý nước thải bệnh viện bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt thông khí tự nhiên (IET - BF); Đánh giá mức độ đa dạng nguồn gen và ứng dụng chỉ thị di truyền phân tử trong hỗ trợ chọn lọc giống gà Liên Minh; Đề tài: Xây dựng quy trình nhân giống và trồng thử nghiệm 04 loài cây thuốc: Xạ đen (Ehretia asperula), Lá khôi (Ardisia silvestris), Bình vôi (Stephania rotunda) và Lan một lá (Nervilia fordii) tại Vườn Quốc gia Cát Bà.

Trong số này, có những dự án do Trung tâm chuyển giao tới các địa phương trên địa bàn thành phố, có những dự án Trung tâm tiếp tục nhận chuyển giao do nhận thấy tính phù hợp và thích ứng cao đối với Hải Phòng.

Có thể thấy, các dự án Trung tâm được chuyển giao trong thời gian qua đã phát huy tính tích cực, hiệu quả, có tính ứng dụng cao trong thực tiễn. Đây là minh chứng cho việc cần thiết phải có một cầu nối, một quá trình chuyển giao KH&CN đúng nghĩa để những vấn đề nghiên cứu, lý thuyết đến gần hơn với đời sống sản xuất, không còn mang tính hàn lâm, sách vở. Dự án Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất, sử dụng chế phẩm probiotic phục vụ chăn nuôi lợn, gà tại Hải Phòng là một ví dụ.

Công nghệ sản xuất chế phẩm vi sinh probiotic sử dụng thức ăn chăn nuôi có xuất xứ từ kết quả của đề tài “Nghiên cứu sản xuất probiotic và enzym tiêu hóa dùng trong chăn nuôi” và Dự án “Sản xuất thử nghiệm probiotic dùng trong chăn nuôi” thuộc “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020” do Viện Chăn nuôi Quốc gia phối hợp với Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia thực hiện trong giai đoạn 2006-2009 và 2011-2012. Công nghệ bao gồm các kỹ thuật nhân giống cấp 1, cấp 2, kỹ thuật lên men chìm, lên men xốp, kỹ thuật sấy phun và sấy thông thường.. để tạo ra các chế phẩm probiotic dùng trong chăn nuôi. Với những công nghệ này, Viện Công nghệ sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội đã chuyển giao Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN những chủng vi sinh vật “cái”, gồm: Vi khuẩn Lactobacillus acidophilus, Vi khuẩn Bacillus subtilis, nấm men Saccharomyces boulardii. Ngoài ra, các cán bộ của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN được hướng dẫn về lý thuyết và thực hành sản xuất, công tác vận hành sản xuất, các bước triển khai quy trình kỹ thuật sản xuất, sử dụng các chủng vi sinh vật trong chế phẩm probiotic phục vụ chăn nuôi lợn gà.

Cụ thể là, với quy trình sản xuất, Viện Công nghệ sinh học đã chuyển giao cho các cán bộ thuộc Trung tâm 07 quy trình kỹ thuật, gồm: Quy trình chuẩn bị môi trường nhân chủng giống và chủng giống sản xuất; Quy trình nhân giống cấp 1,2 và lên men chủng Bacillus subtilis; Quy trình nhân giống cấp 1,2 và lên men chủng Lactobacillus acidophilus; Quy trình nhân giống cấp 1,2 và lên men chủng Saccharomyces boulardii; Quy trình cô đặc dịch lên men vi sinh vật; Quy trình phối trộn cơ chất và sấy khô; Quy trình nghiền, đóng gói và kiểm tra chất lượng chế phẩm. Nội dung các quy trình sử dụng chế phẩm được tiếp nhận gồm 4 quy trình: Quy trình công nghệ chăn nuôi và quản lý lợn con cai sữa bằng thức ăn vi sinh; Quy trình công nghệ chăn nuôi và quản lý lợn thịt bằng thức ăn vi sinh; ; Quy trình công nghệ chăn nuôi và quản lý gà con từ 1 đến 28 ngày tuổi bằng thức ăn vi sinh và Quy trình công nghệ chăn nuôi và quản lý gà thịt từ 28 ngày tuổi đến xuất chuồng bằng thức ăn vi sinh.

Tiếp nhận các công nghệ và quy trình chuyển giao trên, các cán bộ thuộc Trung tâm đã tiến hành sản xuất thử nghiệm chế phẩm probiotic gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: nhân giống, lên men chìm thu hồi sinh khối và cô đặc các chủng vi sinh vật (Bacilus subtilis, Saccharomyces boulardii và Lactobacilus acidophilus); Giai đoạn 2: sản xuất chế phẩm đơn chủng; Giai đoạn 3: phối trộn chế phẩm dạng đơn chủng + cám gạo theo tỉ lệ 1:9 ở độ ẩm 11-13% tạo thành chế phẩm đa chủng probiotic. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, dự án đã hiệu chỉnh một số công nghệ cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cụ thể là, ở giai đoạn 1, trong quá trình cô đặc chủng Lactobacillus acidophilus, nếu để tỷ lệ cô đặc như quá trình chuyển giao là 1/10 sẽ dẫn đến hiện tượng chết một lượng lớn vi khuẩn này; do đó, nhóm nghiên cứu đã gia tăng tỷ lệ lên 1/20, vừa nâng cao mật độ chủng Lactobacillus acidophilus đồng thời làm giảm hàm lượng nước sau quá trình phối trộn với cơ chất, rút ngắn thời gian sấy. Sau quá trình hiệu chỉnh, mật độ chủng Lactobacillus acidophilus tăng lên rõ rệt (từ 3,5x1010 lên 7,6x1010 và 7,8 x1010 CFU/g). Trong giai đoạn 2 - sản xuất chế phẩm đơn chủng. Sinh khối các chủng vi sinh vật sau khi cô đặc đạt mật độ vi sinh vật hữu ích ≥ 1010CFU/g được phối trộn riêng rẽ với cơ chất đường lactose, đường glucose, tinh bột tan, bột sữa gầy theo tỷ lệ thích hợp. Ở đợt sản xuất thứ nhất, nhóm tác giả giữ nguyên tỉ lệ phối trộn cơ chất của cả 3 chủng là 0,7 lít sinh khối/ 1kg cơ chất (theo quy trình chuyển giao). Ở đợt 2 và đợt 3, dựa trên kết quả kiểm tra mật độ chủng Lactobacillus acidophilus sau khi hiệu chỉnh cô đặc, các cán bộ Trung tâm đã thay đổi tỉ lệ phối trộn với cơ chất tinh đối với chủng này là 0,5 lít sinh khối/1kg cơ chất. Việc hiệu chỉnh này vẫn giữ được mật độ chủng Lactobacillus acidophilus sau phối trộn cao hơn so với đợt 1, đồng thời làm giảm hàm lượng nước của sản phẩm trước sấy, giảm thời gian sấy từ 32 xuống còn 24 giờ, dẫn đến giảm đáng kể hiện tượng chết của tế bào Lactobacillus acidophilus.

Với quy trình sản xuất đã được tiếp nhận và hiệu chỉnh một số công nghệ, nhóm tác giả đã sản xuất thành công chế phẩm probiotic, đưa vào sản xuất thử nghiệm 3 đợt với lượng 1.080kg. Chế phẩm probiotic có dạng bột mịn màu trắng xám, tơi xốp, mật độ vi sinh vật hữu ích đạt từ 108CFU/g được Viện Công nghệ sinh học đánh giá đạt yêu cầu chất lượng.

Song song với việc triển khai sản xuất thử nghiệm chế phẩm và kiểm tra đánh giá mật độ vi sinh vật hữu ích trong điều kiện phòng thí nghiệm để đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh vật, Trung tâm đã phối hợp với đơn vị chuyển giao và UBND xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng xây dựng mô hình “Ứng dụng chế phẩm probiotic trong chăn nuôi lợn gà”. Đây là bước kiểm tra tính thiết thực của mô hình so với điều kiện sản xuất, chăn nuôi tại địa phương.

Kết quả so sánh với mô hình đối chứng không sử dụng chế phẩm cho thấy: Trên đàn lợn cai sữa, tỉ lệ nhiễm Salmonella và vi khuẩn E.coli thấp hơn hẳn so với đàn lợn không sử dụng chế phẩm probiotic (chỉ 16,67% nhiễm Salmonella sau 7 ngày, so với 66,67% đàn lợn không sử dụng chế phẩm, mức độ nhiễm vi khuẩn E.coli chỉ bằng 1/3 so với đàn lợn không sử dụng chế phẩm); Khả năng thu nhận thức ăn cao hơn hẳn lợn đối chứng; Khối lượng cơ thể tăng trung bình 2,02 kg/con sau 4 tuần nuôi; mang lại hiệu quả kinh tế cao (cao hơn gần 100.000 đồng/con so với đàn lợn không sử dụng chế phẩm). Tương tự, đối với đàn lợn thịt, đến thời điểm xuất bán, đàn lợn thịt sử dụng chế phẩm vi sinh cho lãi bình quân 646.000 đồng/con, trong khi đàn lợn thịt đối chứng thu lãi 207.000 đồng/con.  Ri lai với mức lãi bình quân 13.150 đồng/kg, cao hơn 5.535 đồng/kg so với gà chăn nuôi thương phẩm thông thường.

Từ thực tiễn kết quả chuyển giao - ứng dụng của các Dự án cho thấy, việc có một cơ quan là cầu nối, đưa những ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất là cần thiết, không chỉ mang tính chất kết nối, mà đây còn là nơi kiểm định, đánh giá và hiệu chỉnh công nghệ thiết bị phù hợp với quá trình sản xuất và đặc thù của địa phương.

Ông Vũ Công Quý - Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Hải Phòng cho biết: Với vai trò là đơn vị chuyển hóa KH&CN của thành phố, Trung tâm  đã được Sở giao thực hiện chức năng nhiệm vụ chuyên môn, trong đó có chương trình hợp tác, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ KH&CN vào đời sống và sản xuất. Trong những năm qua, Trung tâm đã phối, kết hợp với các Viện, trường đại học Trung ương triển khai các chương trình này và đạt được những kết quả khả quan. Trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các Viện trong nước, cũng như quốc tế, theo định hướng chỉ đạo của Sở, của thành phố để triển khai, khai thác các công nghệ có thể ứng dụng tại Hải Phòng, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả trong việc ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố.

H.M