Chuyên mục

Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 248
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ Hải Phòng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố (26/12/2016)

Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ. Hải Phòng là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu đối với việc phát triển đội ngũ nhân lực tương xứng với trọng trách, vị trí và tiềm năng của thành phố. Trong đó, nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) – những người làm việc trong các tổ chức KH&CN, các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố là đội ngũ đóng vai trò then chốt thúc đẩy sự phát triển của thành phố trong tương lai. 

Vai trò của đội ngũ nhân lực KH&CN của thành phố đã được xác định trong Nghị quyết 08-NQ/TU của Hội nghị lần thứ X Ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XIV ngày 16/5/2013 của Thành ủy Hải Phòng, Nghị quyết  08/2013/NQ-HĐND ngày 25/7/2013 của Hội đồng nhân dân thành phố: “Phát triển nhân lực KH&CN vừa là quan điểm, vừa là mục tiêu phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030”;  việc xây dựng và quản lý quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN là một trong những giải pháp để phát triển nhân lực KH&CN đạt mục tiêu đề ra. 

Trên cơ sở đó, đề án “Phát triển nhân lực KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030” được triển khai nhằm đưa ra các quan điểm, mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp để phát triển nhân lực KH&CN đạt mục tiêu của các Nghị quyết, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của thành phố. Đề án do ThS. Lê Thị Tố Uyên – Phó Giám đốc Sở KH&CN làm chủ nhiệm và được Hội đồng KH&CN thành phố đánh giá xếp loại xuất sắc. 

Thực trạng 

Nhân lực KH&CN của thành phố thông qua quá trình tự đào tạo và đào tạo lại đã phát triển nhanh về số lượng, trưởng thành một bước về chất lượng (tỷ lệ cán bộ có trình độ trên đại học, cơ cấu ngành nghề, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng nghiên cứu, trình độ lý luận chính trị...) thích nghi dần với nền kinh tế thị trường. 

Về cơ cấu, độ tuổi, số lượng…, đến tháng 6/2015, nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức KH&CN có 4.900 cán bộ có trình độ đại học trở lên, trong đó có 248 người có trình độ Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ (5,06%), 1.706 Thạc sĩ (34,82%), 2946 đại học (60,12%). 

Cán bộ KH&CN của thành phố được trẻ hóa với số cán bộ KH&CN có độ tuổi dưới 40 chiếm tỷ lệ cao nhất (71,02%), tiếp đến là độ tuổi từ 40 đến dưới 50 (15,88%); Từ 50 đến dưới 55 (7,21%); Từ 55 đến dưới 60 (4,08); Tỷ lệ thấp nhất là cán bộ KH&CN từ 60 tuổi trở lên, chỉ có 1,81% (tất cả là cán bộ KH&CN nam, không có cán bộ KH&CN nữ tuổi từ 60 trở lên còn làm việc trong các tổ chức). Đây là những cán bộ KH&CN có trình độ cao, nhiều người trong số này được phong hàm Giáo sư, Phó Giáo sư, làm việc trong các trường Đại học, tổ chức KH&CN Trung ương. Trong đó, riêng trường Đại học dân lập Hải Phòng có tới 15 Giáo sư, Phó Giáo sư ở độ tuổi này hiện đang làm việc tại trường. 

Tổng số 4.900 cán bộ KH&CN có trình độ đại học trở lên được đào tạo ở 51 ngành (cấp III) trên tổng số 68 mã ngành, trong đó 10 ngành đào tạo có số cán bộ KH&CN nhiều nhất: Đào tạo giáo viên (13,85%); Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông (7.44%); Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật (7.31%); Kế toán – Kiểm toán (7,03%); Nông nghiệp (6,82%); Kinh doanh (5,31%); Công nghệ thông tin (4,27%); Ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài (4,00%); Y học (4,00%); Xây dựng (3,86%). 

Cơ cấu nhân lực KH&CN trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (38,1%), tiếp đến là nhân lực KH&CN trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (35,0%), khoa học nông nghiệp chiếm 12% và khoa học y dược chiếm 8,5%. 

Tỷ lệ cán bộ có trình độ trên đại học trong từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể như sau: Khoa học Xã hội và Nhân văn 38,9%; Khoa học tự nhiên 77,5%; Khoa học nông nghiệp 11%; Khoa học Y-Dược 44,3%; Khoa học kỹ thuật và công nghệ 40,3%. (Cơ cấu chung của cả nước, lần lượt là: 35%, 40%, 25%, 35%, 25%). 

Tuy nhiên, nhân lực KH&CN có trình độ ngoại ngữ quốc tế IELTS từ 5,5 (và tương đương) trở lên chỉ chiếm 2,8 %, hầu hết là cán bộ KH&CN có trình độ Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ, Thạc sĩ làm việc ở các trường đại học, tổ chức KH&CN Trung ương. 

Về trình độ lý luận chính trị, nhân lực KH&CN được học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị chiếm tỷ lệ thấp, trong đó chỉ có 4,28% nhân lực KH&CN có trình độ lý luận chính trị cao cấp/cử nhân; 7,14% nhân lực KH&CN có trình độ lý luận chính trị trung cấp; Có tới 88,58% nhân lực KH&CN chưa được tham gia các khóa học nâng cao trình độ lý luận chính trị.

Về kết quả hoạt động của nhân lực KH&CN: 

Lực lượng cán bộ KH&CN này đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào việc tư vấn, phản biện, nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề lớn, quan trọng về KH&CN, có nhiều đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và KH&CN của thành phố. 

Theo báo cáo của 39 tổ chức KH&CN (11 trường đại học, cao đẳng, 11 tổ chức KH&CN trung ương, 17 tổ chức KH&CN địa phương), các cán bộ KH&CN của các đơn vị này trong 5 năm đã triển khai thực hiện 256 nhiệm vụ các cấp Nhà nước, Bộ, thành phố, trong đó có: 29 nhiệm vụ thuộc các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, các nhiệm vụ độc lập cấp Nhà nước; 165 nhiệm vụ cấp Bộ; 63 nhiệm vụ cấp thành phố; Ngoài ra còn có 62 nhiệm vụ được thực hiện từ nguồn tài trợ hoặc tham gia cùng các tổ chức quốc tế, hoặc ký hợp đồng triển khai với các địa phương, cơ quan, tổ chức; Nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở được triển khai lên tới hàng nghìn, số lượng lớn tập trung triển khai ở các trường đại học. 

Đã có 305 bài báo, công trình khoa học được công bố trên các tạp chí trong nước và quốc tế, trong đó có 34 bài báo, công trình khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế; 294 báo cáo khoa học được trình bày tại các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế, trong đó có những hội thảo quan trọng, có quy mô châu lục và toàn cầu về biến đổi khí hậu, nước biển dâng... Chủ trì xuất bản 14 cuốn sách về KH&CN biển, y học biển… 

Cùng với việc triển khai các nhiệm vụ KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách, kết quả các nhiệm vụ KH&CN do nhân lực trong các tổ chức KH&CN thực hiện đã cung cấp luận cứ xây dựng quy hoạch không gian biển, luận cứ quy hoạch hệ thống cảng biển, đánh giá tiềm năng nguồn lợi, lượng giá kinh tế các hệ sinh thái biển, đảo...; Cung cấp cứ liệu làm cơ sở đàm phán hoạch định lãnh hải, vùng đảo Bạch Long Vỹ liên quan chủ quyền trên vịnh Bắc Bộ; Đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho cải tạo và khẳng định cho sự phát triển không thể thay thế của cảng biển Hải Phòng ..., nhiều nhiệm vụ KH&CN xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất, đời sống, khả năng ứng dụng cao phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội (giống con cho năng suất cao, chất lượng tốt, các mô hình phù hợp, hiệu quả...) bảo vệ quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường của thành phố Hải Phòng, các địa phương vùng ven biển... 

Tại các trường đại học, các nhiệm vụ KH&CN bên cạnh nhiệm vụ tập trung cho việc xây dựng, hoàn thiện giáo án, chương trình dạy học, đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy, đã có những nhiệm vụ nghiên cứu, giải quyết những vấn đề phục vụ cho sản xuất, đời sống, sau đánh giá, nghiệm thu, được ứng dụng trong thực tiễn, sản xuất máy móc, thiết bị ứng dụng công nghệ  cao, đạt tiêu chuẩn của nước tiên tiến: Lò xử lý rác thải và dầu cặn tàu biển VMU AT-10, Thiết bị xử lý nước thải tàu biển VMU SW-20 được thiết kế dựa trên công nghệ tiên tiến nhất hiện nay đang được lắp đặt trên các tàu biển Việt Nam; Sản phẩm Bảng điện chính tàu thủy (Đăng kiểm ClassNK, Nhật Bản kiểm định và cấp chứng nhận); Nghiên cứu Chế tạo Máy đo sâu hàng hải... (Đại học Hàng hải Việt Nam); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ ''Nghiên cứu sử dụng phế thải tro xỉ than của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng làm phụ gia cho bê tông'' (Đại học Hải Phòng);  Nghiên cứu chế tạo sinh phẩm Y tế kháng ung thư từ nọc rắn Việt Nam (cấp nhà nước); Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở các trạm y tế xã của Hải Phòng; Ứng dụng phác đồ giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi trong điều trị hen phế quản do Dermatophagodes Pteronyssinus tại Hải Phòng (Đại học Y - Dược Hải Phòng)… Nhiều đề tài nghiên cứu giải quyết những vấn đề rất mới, mang tính thời sự, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế biến của thành phố: Nghiên cứu đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần (logistics) cảng biển phục vụ cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Hải Phòng (Đại học Hàng Hải)... 

Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, nhân lực KH&CN trên địa bàn thành phố vẫn còn có những hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Tiêu biểu là: 

Tỷ lệ tăng bình quân hàng năm của nhân lực KH&CN chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết (tăng trung bình 9,7%/năm, so với chỉ tiêu Nghị quyết 08-NQ/TU ngày  16/5/2013 của Thành ủy về phát triển KH&CN đến 2020, tầm nhìn 2030về “đội ngũ nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố tăng bình quân hàng năm 20%”). 

Tỷ lệ cán bộ KH&CN có trình độ trên đại học vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số cán bộ KH&CN của thành phố, đồng thời thấp hơn so với trung bình chung cán bộ KH&CN của cả nước: tỷ lệ cán bộ có trình độ Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ, chỉ bằng 2,02% số tiến sĩ làm việc trong các tổ chức KH&CN của cả nước; Tỷ lệ cán bộ KH&CN trên đại học của thành phố mới chỉ đạt 34,77%, so với 44,56% có trình độ trên đại học của cả nước. 

Nhân lực KH&CN có sự bất hợp lý về cơ cấu theo lĩnh vực nghiên cứu/ngành nghề đào tạo: Tỷ lệ nhân lực KH&CN lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn chiếm tỷ lệ cao (35%) so với cả nước (8,72%); Nhân lực KH&CN trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và công nghiệp (12% và 38,1%) thấp hơn rất nhiều so với trung bình chung của cả nước (25,19% ,52,52%)...  Một số ngành thuộc các lĩnh vực công nghệ cao hoặc thuộc ngành kinh tế trọng điểm của thành phố, tỷ lệ cán bộ KH&CN có trình độ trên đại học rất thấp: Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông (2,66%); Khoa học môi trường (1,60%); Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông (1,06%); Công nghệ sinh học, Sinh học ứng dụng (1,16%); Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật (0,80%); thủy sản (0,80%); Kỹ thuật hoá học, vật liệu, luyện kim và môi trường (0%);...

Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, tỷ lệ cán bộ KH&CN có trình độ ngoại ngữ đạt chứng chỉ IELTS và tương đương, trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên, số lượng cán bộ KH&CN được xếp vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ chiếm tỷ lệ rất thấp, .... 

Cùng với đó, một bộ phận cán bộ KH&CN bất cập về kiến thức, năng lực và trình độ trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; thiếu cán bộ đầu đàn ở nhiều lĩnh vực KH&CN, thiếu chuyên gia công nghệ có trình độ cao. Các trường đại học, cao đẳng có số lượng đông đảo cán bộ KH&CN nhưng chưa có những nhóm nghiên cứu mạnh, hoạt động KH&CN chưa thực sự gắn kết với nhu cầu của thành phố...

Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện đề án “Phát triển nhân lực KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030”. 

Có thể nhận thấy hoạt động của đội ngũ nhân lực KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Do vậy, KH&CN chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội, chưa bám sát yêu cầu phát triển của đất nước, chưa có các công trình, sản phẩm mang tính đột phá. Mà nguyên nhân của những hạn chế này là: Nguồn lực tài chính, chi đầu tư cho phát triển nhân lực KH&CN còn hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu KH&CN còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng điều kiện để đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chất lượng nhân lực KH&CN cũng như tạo môi trường làm việc sáng tạo cho nhân lực KH&CN;  Quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN chưa được xây dựng và thực hiện, Nhân lực KH&CN trong những lĩnh vực, ngành trọng điểm phát triển của thành phố chưa được quan tâm đầu tư, tập trung, ưu tiên để phát triển; Quản lý nhà nước về phát triển nhân lực KH&CN còn những bất cập so với yêu cầu, trong đó, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển nhân lực KH&CN chưa chặt chẽ; Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác nghiên cứu khoa học với đào tạo; Hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nhân lực nói chung chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của thành phố… 

Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp 

Từ việc phân tích, so sánh giữa thực trạng nhân lực KH&CN thành phố thời gian qua và yêu cầu phát triển nhân lực KH&CN của thành phố hiện nay, tác giả đã chỉ ra quan điểm phát triển nhân lực KH&CN cụ thể như sau: 

Một là: Phát triển, bảo đảm nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực KH&CN là một trong ba khâu đột phá cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2020, định hướng 2030: chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; tăng cường ứng dụng KH&CN; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; tăng nhanh hàm lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế; tăng năng suất lao động, tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực;… 

Hai là: Phát triển nhân lực KH&CN theo quy hoạch, vừa đảm bảo tính hài hòa về cơ cấu theo ngành, lĩnh vực, vừa đảm bảo theo hướng tập trung phát triển cho các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ ưu tiên, gắn bó chặt chẽ với các chương trình phát triển KH&CN, phải phù hợp với quy hoạch phát triển của các ngành, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. 

Ba là: Phát triển nhân lực KH&CN phải được thực hiện đồng bộ, đảm bảo gắn liền giữa đào tạo, thu hút với sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ, nhằm phát huy đầy đủ năng lực, phẩm chất của cán bộ KH&CN, đồng thời gắn kết chặt chẽ với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KH&CN, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho các tổ chức KH&CN công lập, đủ năng lực giải quyết những vấn đề KH&CN của thành phố, để tạo môi trường làm việc có thể phát huy khả năng sáng tạo của nhân lực KH&CN... Phát triển nhân lực KH&CN của thành phố được triển khai trên cơ sở thực hiện nghiêm túc cơ chế, chính sách của Trung ương, đến các chương trình học bổng, cơ chế tài chính, lương, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực KH&CN, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực KH&CN trọng điểm, mũi nhọn của thành phố. 

Bốn là: Phát triển nhân lực KH&CN phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với việc tiếp thu tinh hoa, văn hóa nhân loại. Quyết định này chi phối nội dung chương trình, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cán bộ KH&CN. Trong đó có nhiệm vụ nâng cao nhận thức, trình độ lý luận chính trị cho cán bộ KH&CN, cán bộ KH&CN trẻ tài năng, cán bộ KH&CN trình độ cao; cán bộ KH&CN bên cạnh đào tạo trong nước cần gửi đi đào tạo ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, tiếp thu, cập nhật kiến thức, thành tựu KH&CN của nhân loại. 

Năm là: Thành phố chú trọng quan tâm đầu tư kinh phí để phát triển nhân lực KH&CN. Ngân sách thành phố tập trung đầu tư để đào tạo, đào tạo lại những ngành nghề trọng điểm, những lĩnh vực ưu tiên của thành phố cho cán bộ KH&CN có trình độ cao, quan tâm tạo điều kiện tốt nhất cho nhân lực KH&CN trẻ tài năng

Để việc phát triển nhân lực KH&CN đến năm 2020, định hướng 2030 đạt mục tiêu của Nghị quyết 08/2013/NQ-HĐND ngày 27/7/2013, về mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN đến 2020, định hướng 2030, tác giả nêu rõ: 

“Phát triển nhân lực KH&CN có trình độ cao, xây dựng đội ngũ chuyên gia KH&CN giỏi, đầu đàn. Phấn đấu đến năm 2020 nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 850 người/vạn dân. Đội ngũ nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố tăng bình quân 20%/năm, phấn đấu cán bộ có trình độ trên đại học đạt 40% vào năm 2020”. Nhân lực KH&CN phát triển theo các lĩnh vực, cụ thể: 

Đội ngũ nhân lực KH&CN đảm bảo đến năm 2020 tăng bình quân 20%/năm: đạt 9.800 người, trong đó 40% đạt trình độ trên đại học; đến năm 2030 tăng bình quân 10%/năm đạt 19.600 người trong đó  40% đạt trình độ trên đại học.

Quang cảnh lớp đào tạo giám đốc, quản trị doanh nghiệp giỏi năm 2015. 

Trong đó, đội ngũ nhân KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đảm bảo tăng trung bình 11%/năm: đạt khoảng 2.600 người vào năm 2020, chiếm 27% nhân lực KH&CN, trong đó trên 45% có trình độ trên đại học; Đến năm 2030 tăng lên khoảng 3.900 người, chiếm 20% nhân lực KH&CN. 

Đội ngũ nhân lực KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên đảm bảo tăng trung bình 11%/năm: đạt 500 người vào năm 2020, chiếm 5% nhân lực KH&CN, trong đó 75% có trình độ trên đại học; Đến năm 2030 tăng lên khoảng 900 người, chiếm 5% nhân lực KH&CN. 

Đội ngũ nhân lực KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học nông nghiệp đảm bảo tăng trung bình 30%/năm, đạt khoảng 1.500 người vào năm 2020, chiếm 15% nhân lực KH&CN, trong đó 12% có trình độ trên đại học; Đến năm 2030 tăng lên khoảng 3.900 người, chiếm 20% nhân lực KH&CN. Trong lĩnh vực này, ưu tiên phát triển nhanh nhân lực thủy sản đảm bảo tăng bình quân 35%/năm, đạt 220 người vào năm 2020. 

Đội ngũ nhân lực KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học y dược đảm bảo tăng trung bình 18%/năm: đạt khoảng 800 người vào năm 2020, chiếm 8% nhân lực KH&CN, trong đó 45%  trình độ trên đại học; Đến năm 2030 tăng lên khoảng 1.500 người, chiếm 8% nhân lực KH&CN. 

Đội ngũ nhân lực KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghiệp đảm bảo tăng trung bình 27%/năm: đạt khoảng 4.400 người vào năm 2020, chiếm 45% nhân lực KH&CN, trong đó 42% trình độ trên đại học; Đến năm 2030 tăng lên khoảng 9.400 người, chiếm 48% nhân lực KH&CN. Trong đó, có một số lĩnh vực ưu tiên: Nhân lực công nghệ thông tin tăng bình quân 30%/năm, đến 2020 đạt khoảng 550 người; Nhân lực công nghệ sinh học tăng bình quân 35%/năm, đến 2020 đạt 160 người; Nhân lực công nghệ cơ khí - tự động hóa tăng bình quân 30%/năm, đến 2020 đạt khoảng 2.700 người. 

Đề xuất nhiệm vụ phát triển nhân lực KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố  đến 2020, định hướng 2030, tác giả nêu 3 nhóm nhiệm vụ đối với các trường đại học cao đẳng, đối với các tổ chức KH&CN và đối với các cơ quan quản lý nhà nước và đề xuất các chương trình, dự án, đề án  ưu tiên để phát triển nhân lực KH&CN. 

Đối với tăng cường hoạt động KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng: 

Nghiên cứu xác định và hình thành hướng nghiên cứu chính phù hợp, riêng có với từng trường đại học/cao đẳng, có tầm ảnh hưởng trong khoa học đồng thời phục vụ thiết thực cho kinh tế - xã hội thành phố; Hình thành, xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và hướng tới các chuẩn mực quốc tế; 

Thành lập mới các tổ chức KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học; kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN hiện có, xem xét tăng biên chế cán bộ nghiên cứu chuyên nghiệp trong các trường đại học. 

 Chủ động, tích cực tham gia, cũng như vận động, khuyến khích cán bộ KH&CN tham gia các đề án, chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Trung ương, các Bộ, thành phố: Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước ban hành theo Quyết định số 2395/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 (Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN trình độ cao, chuyên gia cho các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trọng điểm, lĩnh vực công nghệ mới; bồi dưỡng sau tiến sỹ; đào tạo, bồi dưỡng nhà khoa học trẻ tài năng...); các chương trình tài trợ cho hoạt động KH&CN (Chương trình tài trợ nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật, dự án đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu KH&CN - First...), cũng như các chương trình học bổng của các nước, các trường đại học nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ ... 

Xây dựng, hoàn thiện, tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách (thực sự có hiệu quả) trong việc tuyển dụng, đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực KH&CN riêng của từng trường. 

Trình phê duyệt, triển khai các Đề án liên doanh, liên kết với các trường đại học danh tiếng, các viện nghiên cứu ở trong nước và quốc tế để đào tạo trình độ trên đại học. 

Đối với các tổ chức KH&CN: 

Chủ động, tích cực tham gia mạng lưới hợp tác nghiên cứu với tổ chức nghiên cứu hàng đầu ở trong và ngoài nước để cán bộ KH&CN được hợp tác, cọ xát trong môi trường học thuật tiên tiến của quốc tế và được đào tạo trong hoạt động nghiên cứu - triển khai quốc tế. 

Đề xuất, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN gắn với kế hoạch phát triển của tổ chức, đơn vị cũng như định hướng hoạt động nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố. 

Tạo điều kiện khuyến khích cán bộ KH&CN tham gia các đề án, chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Trung ương, các Bộ, thành phố. 

Các tổ chức KH&CN địa phương nhiệm vụ chính là chuyển hóa kết quả nghiên cứu. Để phát triển nhân lực KH&CN một cách bền vững, cần tăng cường triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, nâng cao khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ, thúc đẩy chuyển giao... Cần tập trung: Chủ động nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, của thành phố... trong từng giai đoạn cụ thể; Tăng cường kết nối với các tổ chức KH&CN hàng đầu của Việt Nam, các tổ chức KH&CN nước ngoài, các trường đại học... ; Kịp thời cập nhật thông tin tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết quả các nhiệm vụ KH&CN phù hợp với thành phố, cũng như phối hợp với cán bộ KH&CN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu triển khai; Chủ động đề xuất các Dự án tăng cường tiềm lực. 

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: 

Thực hiện các cơ chế, chính sách đối với cán bộ KH&CN trong sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh, thu hút tạo nguồn cán bộ. 

Xây dựng và thực hiện Quy  hoạch phát triển tổ chức KH&CN. 

Xây dựng và thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ KH&CN giai đoạn 2016-2020, định hướng 2030. 

Tăng cường tiềm lực cho các tổ chức KH&CN. 

Hỗ trợ, khuyến khích thành lập, phát triển các doanh nghiệp KH&CN trên địa bàn thành phố; các khu công nghệ cao, khu sản xuất thực nghiệm, trình diễn, chuyển giao tiến bộ KH&CN nhằm đáp ứng yêu cầu về nghiên cứu ứng dụng và làm chủ công nghệ phục vụ sản xuất đời sống. 

Từ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trên đây, tác giả đề ra 4 nhóm giải pháp cơ bản để phát triển nhân lực KH&CN gồm: Đổi mới, thống nhất quản lý nhà nước về phát triển nhân lực KH&CN; Bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực KH&CN; Tăng cường hợp tác, chủ động hội nhập quốc tế, hợp tác trong nước để phát triển nhân lực KH&CN; Nghiên cứu việc Thành lập Trung tâm phát triển nhân lực chất lượng cao trong đó có nhân lực KH&CN. 

Có thể nói, với những nghiên cứu, đánh giá mang tính khoa học và thực tiễn cao, bức tranh tổng thể thực trạng nhân lực KH&CN của thành phố về số lượng, chất lượng, cơ cấu, kết quả hoạt động... của đội ngũ cán bộ KH&CN hiện nay đã được tác giả tái hiện rõ nét, chân thực và sâu sắc. Từ đó, chỉ ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp khoa học, cụ thể và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Nếu được triển khai trong thực tế, những đề xuất thiết thực, có khả năng ứng dụng cao này sẽ góp phần quan trọng thực hiện các định hướng phát triển KH&CN nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói chung.

Châu Anh