Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 650
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Tạo bước đột phá tăng cường tiềm lực KH&CN Hải Phòng (09/10/2015)

ThS.Lê Thị Tố Uyên

Phó Giám đốc Sở KH&CN Hải Phòng

Cùng với quá trình phát triển của nền KH&CN cả nước, KH&CN có những bước phát triển quan trọng, đạt được nhiều kết quả, trong đó phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của tiềm lực KH&CN của thành phố.

Về nhân lực KH&CN, lực lượng cán bộ KH&CN của thành phố đã phát triển nhanh về số lượng, trưởng thành một bước về chất lượng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ của thành phố.

Hội thảo khoa học Nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển thành phố Hải Phòng đến năm 2020

Một số lượng đáng kể cán bộ KH&CN có trình độ chuyên môn, công nghệ và ngoại ngữ tương đối tốt đã được thu hút về Hải Phòng thông qua các dự án đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất thép - một ngành đã trở thành mũi nhọn của Hải Phòng.

Bên cạnh đó, bằng cơ chế sử dụng, thành phố đã thu hút chất xám của một lực lượng tương đối lớn các nhà khoa học, công nghệ của các cơ quan trung ương. Lực lượng cán bộ KH&CN này đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào việc tư vấn, phản biện, nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề lớn, quan trọng về KH&CN và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, điều tra cơ bản và bảo vệ môi trường, khoa học xã hội và nhân văn, an ninh - quốc phòng, đặc biệt trong việc xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, KH&CN, giáo dục và đào tạo. Đây là nguồn nhân lực KH&CN rất quan trọng đối với thành phố.

Về các tổ chức hoạt động  KH&CN, Hải Phòng hiện có 55 tổ chức, trong đó nhiều cơ quan lớn của Trung ương đóng trên địa bàn Hải Phòng có tiềm lực KH&CN mạnh: Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Y học biển... Thành phố còn có 20 trường đại học, cao đẳng với đội ngũ nhân lực KH&CN đông đảo. Tiềm năng hoạt động KH&CN của các trường tương đối dồi dào. Nhân lực khoa học Nếu được phát huy, sử dụng hợp lý sẽ có những đóng góp không nhỏ cho hoạt động KH&CNcủathành phố.

Hoạt động thông tin KH&CN đã được thành phố quan tâm nhiều và có những chuyển biến quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách và các quy định của pháp luật về KH&CN đến với nhân dân, phổ biến tri thức, nâng cao dân trí KH&CN; cung cấp thông tin KH&CN phục vụ quản lý nhà nước, phục vụ nghiên cứu, triển khai, phục vụ sản xuất và đời sống.

Đầu tư kinh phí cho hoạt động KH&CN từng bước được nâng lên. Vấn đề đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho hoạt động KH&CN đã thực sự được quan tâm. Ngân sách thành phố dành cho KH&CN hàng năm liên tục tăng (10-20%/năm), từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học, công nghệ của thành phố, song hiện nay vẫn còn khoảng cách khá xa so với chỉ tiêu 2% ngân sách chi như chủ trương của thành phố (hiện tại bình quân đạt 0,57%).

Ngoài kinh phí ngân sách địa phương, thành phố đã tranh thủ các nguồn khác đầu tư cho phát triển KH&CN như: kinh phí ngân sách trung ương, viện trợ quốc tế, vốn tự có và huy động khác của các doanh nghiệp... Các nguồn vốn này chiếm tỷ trọng khá lớn trong đầu tư cho phát triển KH&CN của thành phố (bình quân chiếm trên 60%).

Bên cạnh những kết quả đạt được, tiềm lực KH&CN thành phố còn nhiều mặt hạn chế. Một bộ phận cán bộ KH&CN còn bất cập về kiến thức, năng lực và trình độ trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố. Thiếu cán bộ đầu đàn ở nhiều lĩnh vực KH&CN, thiếu cán bộ giỏi về khoa học quản lý và chuyên gia công nghệ có trình độ cao. Có sự mất cân đối về ngành nghề đào tạo. Đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu cả về chất lượng và số lượng.

Các tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ của thành phố tuy nhiều về số lượng nhưng nhìn chung chất lượng thấp, nhiều cơ sở không đủ điều kiện về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất để đảm đương những chức năng được giao, năng lực hoạt động KH&CN còn thấp.

Hoạt động thông tin KH&CN ở các vùng nông thôn, nông nghiệp còn yếu; hiệu quả thông tin KH&CN còn hạn chế. Thông tin công nghệ chưa đủ khả năng phục vụ các doanh nghiệp. Tính mạng lưới, quy hoạch hệ thống để phát huy, khai thác tiềm năng thông tin  còn yếu. Các cơ sở dữ liệu KH&CN chuyên ngành chậm được xây dựng.

Đối với kinh phí cho KH&CN, chủ trương trích một phần vốn của các dự án, công trình phát triển kinh tế- xã hội để giải quyết các nhiệm vụ KH&CN liên quan đến nội dung và chất lượng của dự án, công trình chưa được thực hiện trên thực tế. Vấn đề chủ động huy động các nguồn đầu tư cho KH&CN chưa được các cấp, các ngành, cơ sở thực sự quan tâm.

Từ thực trạng tiềm lực KH&CN thành phố, để đạt mục tiêu của Nghị quyết số 08/NQ-TU của Thành ủy Hải Phòng về phát triển KH&CN thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nghị quyết số 08/2013/NQ-HĐND của HĐND thành phố về nhiệm vụ, giải pháp phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, UBND thành phố đã phê duyệt 5 chương trình KH&CN trọng điểm thực hiện từ nay đến năm 2020, trong đó có Chương trình Tăng cường tiềm lực KH&CN thành phố Hải Phòng đến năm 2020.

Chương trình có 4 mục tiêu chính, nhằm vào 4 đối tượng: nhân lực KH&CN, các tổ chức KH&CN, thông tin KH&CN và tài chính cho hoạt động KH&CN.

Về nhân lực KH&CN: Phát triển nhân lực có trình độ cao, xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, cán bộ KH&CN đầu đàn. Phấn đấu đến năm 2020, nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 850 người/vạn dân; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu – phát triển đạt 12-13 người/vạn dân. Đội ngũ nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố tăng bình quân 20%/năm; trong đó trình độ trên đại học đạt 35% vào năm 2015, 40% vào năm 20020.

Về các tổ chức KH&CN: Củng cố và tăng cường tiềm lực các tổ chức này, tranh thủ tiềm lực KH&CN của trung ương và quốc tế; chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Hệ thống các tổ chức KH&CN, các trường đại học trên địa bàn đủ khả năng giải quyết các nhiệm vụ KH&CN trọng điểm của thành phố, có sức lan tỏa trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng duyên hải Bắc bộ.

Về thông tin KH&CN: Xây dựng mạng lưới thông tin trên địa bàn thành phố. Phát triển mạnh dịch vụ cung cấp, tổng hợp – phân tích thông tin, số liệu thống kê KH&CN bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý, sản xuất kinh doanh. Xây dựng nguồn lực thông tin và phát triển các cơ sở dữ liệu về KH&CN; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến tri thức KH&CN.

Về tài chính dành cho KH&CN: Phấn đấu nâng tổng đầu tư cho KH&CN đạt 1,5% GDP vào năm 2015, trên 2% vào năm 2020; tăng mức đầu tư từ ngân sách cho KH&CN bảo đảm tối thiểu 2% chi ngân sách thành phố hàng năm.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đặt ra 29 nhiệm vụ cụ thể. Các nhiệm vụ này được giao cho các cơ quan chủ trì, quy định thời gian, tiến độ thực hiện, làm cơ sở cho việc kiểm tra, đôn đốc, theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện.

Trước mắt, từ nay đến năm 2015, để tăng cường tiềm lực KH&CN thành phố, ngành KH&CN tập trung thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

Trước hết là rà soát, đánh giá các cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển nhân lực KH&CN đã ban hành, kiến nghị điều chỉnh để đảm bảo tính nhất quán, đồng bộ trong triển khai thực hiện. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN của thành phố.

Củng cố, sắp xếp lại và phát triển các tổ chức KH&CN công lập trọng điểm theo chuyên ngành của thành phố theo hướng mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có những cơ sở đủ sức giải quyết những nhiệm vụ KH&CN của ngành, lĩnh vực. Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực các tổ chức KH&CN chuyên ngành về biển, kinh tế biển và môi trường. Củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực một số tổ chức KH&CN công lập của thành phố, bảo đảm đủ năng lực nghiên cứu tiếp thu, chuyển hóa thành quả KH&CN vào cuộc sống.

Bên cạnh đó, xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin KH&CN thành phố. Đồng thời, nghiên cứu và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm ngân sách dành cho hoạt động KH&CN của thành phố hàng năm đạt 2% tổng chi ngân sách.                              

Để tham mưu, giúp UBND thành phố thực hiện Chương trình, Ban chỉ đạo Chương trình Tăng cường tiềm lực KH&CN thành phố Hải Phòng đến năm 2020 với 12 thành viên đã được thành lập theo Quyết định số 320/QĐ-UBND ngày 23/1/2014 của UBND thành phố. Với sự triển khai nghiêm túc Chương trình, hy vọng rằng, sự tích cực của các cơ quan, đơn vị sẽ tạo một bước đột phá quan trọng trong việc tăng cường tiềm lực KH&CN Hải Phòng, thực hiện tốt mục tiêu mà Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 16/5/2013 mà Thành ủy đã đề ra.