Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 470
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Tiềm lực Khoa học và công nghệ Hải Phòng 3 năm nhìn lại (23/02/2016)

                                               Lê Thị Tố Uyên

Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng

Tiềm lực KH&CN được hiểu là tất cả những yếu tố tác động đến sự phát triển của KH&CN, trong đó, được phân thành 4 nhóm chính: nhân lực KH&CN, tổ chức KH&CN, thông tin KH&CN và tài chính cho KH&CN. Để tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động KH&CN thành phố Hải Phòng, thành phố đã ban hành nhiều chương trình KH&CN trọng điểm, trong đó có Chương trình Tăng cường tiềm lực KH&CN Hải Phòng đến năm 2020. Sau 3 năm triển khai chương trình, tiềm lực KH&CN thành phố đã có những bước phát triển rõ nét về số lượng và chất lượng.

Thông qua quá trình đào tạo, đào tạo lại, cũng như thực hiện chính sách thu hút,nhân lực KH&CN của thành phốphát triển nhanh về số lượng, trưởng thành một bước về chất lượng. Đến nay, nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức KH&CN có 4.900 cán bộ có trình độ ĐH trở lên, trong đó có 248 người có trình độ tiến sĩ khoa học, tiến sĩ; 1.706 thạc sĩ (34,82%), 2946 đại học (60,12%).

Số lượng nhân lực có trình độ trên đại học tăng nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao. Nhân lực KH&CN có trình độ trên đại học đạt 1.954 người, chiếm 39,88%, vượt chỉ tiêu “nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố có trình độ trên đại học vào năm 2015 đạt 35%” (Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 16/5/2013 của Thành ủy về phát triển KH&CN đến 2020, tầm nhìn 2030).

Đội ngũ nhân lực KH&CN từng bước được trẻ hóa, với tỷ lệ dưới 40 tuổi chiếm 71,02%; Tỷ lệ có trình độ thạc sĩ, dưới 40 tuổi chiếm 77,40%; Tỷ lệ có trình độ tiến sĩ, dưới 40 tuổi chiếm 25,44%; Cơ cấu nhân lực KH&CN nữ tăng nhanh, đạt 51.96 % (so với 37,27% năm 2008).

Đại diện Lãnh đạo Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, lãnh đạo Sở KH&CN chứng kiến lễ ký kết  ra mắt mạng lưới Thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng.

Cơ cấu ngành nghề đào tạo có hướng thay đổi tích cực, tăng tỷ lệ ngành công nghệ cao; nhân lực KH&CN có trình độ cao được đào tạo ở một số ngành, lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển KH&CN, kinh tế-xã hội thành phố...

Lực lượng nhân lực KH&CN này đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào việc tư vấn, phản biện, nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề lớn, quan trọng về KH&CN, có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và KH&CN của thành phố. Tuy vậy, nhân lực KH&CN của thành phố còn bộc lộ nhiều hạn chế:một bộ phận bất cập về kiến thức, năng lực và trình độ trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóathành phố; Thiếu cán bộ đầu đàn ở nhiều lĩnh vực KH&CN, thiếu chuyên gia công nghệ có trình độ cao; Có sự mất cân đối về ngành nghề đào tạo; Tỷ lệ tăng bình quân hàng năm của nhân lực KH&CN chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết (chỉ tăng trung bình 9,7%/năm, so với chỉ chỉ tiêu 20%/năm Chương trình); Bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề đào tạo; Trình độ ngoại ngữ còn nhiều hạn chế (tỷ lệ nhân lực KH&CN có trình độ ngoại ngữ đạt chứng chỉ IELTS và tương đương chiếm tỷ lệ rất thấp, trình độ chính trị cao cấp, cử nhân chính trị thấp....); Số lượng nhân lực KH&CN được xếp vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ rất ít (trên địa bàn thành phố chỉ có 3 nghiên cứu viên cao cấp, 14 nghiên cứu viên chính).

Các tổ chức KH&CN của thành phố bước đầu được củng cố và tăng cường tiềm lực, đã có bước phát triển cả về mặt số lượng và năng lực hoạt động.Hải Phòng hiện có 62 tổ chức có hoạt động KH&CN (trong đó có 8 đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn thành phố) và 20 trường đại học, cao đẳng. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các tổ chức KH&CN trên địa bàn, ngành KH&CN có những điều chỉnh, sắp xếp nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức này, như: Thực hiện chuyển đổi hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với 5 tổ chức KH&CN công lập trực thuộc Sở (Việc chuyển đổi bước đầu đã tạo cơ chế tự chủ thông thoáng, nâng cao tính tự chủ, chủ động của các tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động); Củng cố hoạt động của 19 tổ chức KH&CN chuyên ngành về biển, kinh tế biển và môi trường, các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố; Thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp KH&CN thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền, các Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập, Nghị quyết của Thành ủy, Hội đồng nhân dân… Tính riêng về doanh nghiệp KH&CN, đến hết năm 2015, Sở KH&CN đã cấp Giấy chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN cho 06 doanh nghiệp,  hoàn thành việc ươm tạo và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN được sở hữu, sử dụng hợp pháp hoặc sở hữu hợp pháp công nghệ để trực tiếp sản xuất thuộc 4 lĩnh vực: công nghệ thông tin - truyền thông (1 doanh nghiệp); công nghệ sinh học (3 doanh nghiệp); vật liệu mới (1 doanh nghiệp);công nghệ bảo vệ môi trường (1 doanh nghiệp): Công ty cổ phần thương mại và sản xuất Ban Mai (9/2011) với 2 sản phẩm; Công ty cổ phần nông nghiệp kỹ thuật cao Hải Phòng (6/2012) với 1 sản phẩm;Công ty công nghệ và dịch vụ viễn thông Nam Việt (tháng 1/2013) với 4 sản phẩm; Công ty cổ phần cơ khí và vật liệu xây dựng Thanh Phúc (tháng 10/2013) với 2 sản phẩm; Công ty cổ phần y dược Khánh Thiện (tháng 2/2014) với 1 sản phẩm; Công ty cổ phần Sơn HP (tháng 9/2015) với 6 sản phẩm. Có 3 doanh nghiệp hoạt động đem lại hiệu quả cao, tỷ trọng doanh thu của các sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả KH&CN trên tổng doanh thu đạt yêu cầu, được hưởng các ưu đãi, được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

Mặc dầu vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật mới được triển khai thực hiện đối với các tổ chức trực thuộc Sở KH&CN; Việc triển khai các qui định về tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức đã được chuyển trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.Tính mạng lưới, quy hoạch của hệ thống tổ chức KH&CN trên địa bàn còn yếu, nhiều đơn vị có chức năng nhiệm vụ chồng chéo, trong khi đó một số lĩnh vực quan trọng như công nghiệp, công nghệ thông tin lại rất yếu và thiếu.. Hoạt động KH&CN trong các trường đại học trên địa bàn thành phố chưa thực sự được quan tâm, chưa gắn kết với nhu cầu của thành phố... Hệ thống hoạt động của tổ chức KH&CN, các trường đại học chưa thực sự là những cơ quan tư vấn mạnh về KH&CN, chưa thực sự là cầu nối giữa KH&CN với sản xuất và đời sống, đặc biệt trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ.

Trong hoạt động thông tin KH&CN, đã xây dựng Mạng lưới thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố. Mạng lưới quy tụ 10 tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN tại Hải Phòngnhằm trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, học tập và phát triển kinh tế - xã hội thành phố. Hoạt động phát triển các dịch vụ cung cấp, tổng hợp-phân tích thông tin, số liệu thống kê KH&CN bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý, dự báo hoạch định chiến lược, chính sách phát triển, sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường KH&CN của thành phố cũng được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, Sở tập trung xây dựng nguồn lực thông tin và phát triển các cơ sở dữ liệu (CSDL) về KH&CN phục vụ quản lý, trước mắt là các CSDL về nhân lực KH&CN, các tổ chức KH&CN, các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn, về các công trình nghiên cứu khoa học & phát triển công nghệ, sở hữu trí tuệ, trình độ công nghệ...Hoạt động tuyên truyền, phổ biến tri thức KH&CN góp phần nâng cao dân trí phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được tăng cường và triển khai có hiệu quả thông qua các ấn phẩm thông tin KH&CN, các phương tiện truyền thông đại chúng (đài Truyền hình Hải Phòng, Báo Hải Phòng, cổng thông tin điện tử Sở KH&CN, cổng thông tin KH&CN Hải Phòng (thongtinkhcn.vn hoặc hpstic.vn)…; Đặc biệt là thông qua sự phối hợp chặt chẽ các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một số hạn chế trong công tác thông tin KH&CN, như: các loại hình dịch vụ, sản phẩm thông tin KH&CN có hàm lượng chất xám, có giá trị gia tăng cao chưa được triển khai cung cấp phục vụ quản lý, sản xuất và đời sống; Cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực của cán bộ thông tin KH&CN chưa được đầu tư nâng cấp.

Đối với tài chính chi cho hoạt động KH&CN, hàng năm, thành phố đã quan tâm nâng tỷ lệ đầu tư cho hoạt động KH&CN từ nguồn ngân sách của thành phố. Nguồn kinh phí đã được phân bổ và sử dụng bước đầu mang lại hiệu quả, phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN.18/28 nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn 2013-2015 đã được thực hiện. Trong đó các nhiệm vụ cụ thể giai đoạn 2013-2015 thuộc nhóm về nhân lực KH&CN, thông tin KH&CN đã được nghiên cứu xây dựng và triển khai cách nghiêm túc, và đảm bảo đáp ứng yêu cầu. Một số nhiệm vụ đã được áp dụng triển khai vào thực tiễn và mang lại hiệu quả tích cực.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu Đề án thành lập Quỹ phát triển KH&CN thành phố Hải Phòng được thực hiện, năm 2015 Sở KH&CN đã trình và được UBND thành phố phê duyệt “Quyết định thành lập và ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển KH&CN thành phốHải Phòng. Hoạt động này đánh dấu một điểm mới trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, góp phần thúc đẩy hoạt động KH&CN trong thời gian tới.

Bên cạnh những tín hiệu đáng mừng trong công tác huy động kinh phí cho hoạt động KH&CN, vẫn cần nhìn nhận một số thực tế sau: nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho KH&CN còn xa mới đạt được 2% tổng chi ngân sách (hiện mới đạt 0,588%), chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển KH&CN: đa số các nhiệm vụ khoa học mới chỉ hỗ trợ kinh phí cho chuyên gia, công kỹ thuật, phần cơ sở vật chất do kinh phí hạn chế nên hầu như không hỗ trợ; một số nhiệm vụ sau khi được nghiệm thu, do không có kinh phí nên đã không thể đưa vào sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp; Chưa có cơ chế hiệu quả khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN; Tổng đầu tư của xã hội cho KH&CN mới đạt 0,207% trong tổng GDP.

Để khắc phục những hạn chế, phát huy những thành tựu nêu trên, giai đoạn 2016 - 2020, ngành tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chương trình, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động các mặt: Rà soát và triển khai thực hiện một số cơ chế hỗ trợ phát triển nhân lực KH&CN; Nghiên cứu xây dựng và triển khai cơ chế chính sách tuyển dụng, thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ nhằm bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn cán bộ, chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực phục vụ lâu dài cho chiến lược phát triển KH&CN, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộithành phố. Triển khai xét tặng giải thưởng KH&CN trên địa bàn thành phố; Củng cố, kiện toàn nâng cao năng lực các tổ chức KH&CN, các doanh nghiệp KH&CN. Đẩy mạnh, mở rộng nội dung, quy mô, nâng cao chất lượng công tác thông tin, thống kê KH&CN, tuyên truyền, phổ biến tri thức KH&CN, chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng thông tin KH&CN. Tập trung huy động đầu tư của toàn xã hội cho KH&CN, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư kinh phí nhiều hơn cho nghiên cứu khoa học, chủ động mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ yếu thông qua việc xây dựng một số dự án đón đầu để sẵn sàng thu hút các nguồn tài trợ quốc tế. Tranh thủ tối đa nguồn ngân sách từ trung ương thông qua các đề tài, dự án cấp nhà nước, dự án nông thôn miền núi, hoạt động hợp tác quốc tế.

Hi vọng rằng, với sự quan tâm của thành phố, sự nỗ lực thay đổi của ngành, tiềm lực KH&CN sẽ ngày một lớn mạnh, đóng góp thiết thực, hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.