<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<title>Dược học</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/12" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/12</id>
<updated>2026-08-17T15:39:14Z</updated>
<dc:date>2026-08-17T15:39:14Z</dc:date>
<entry>
<title>Tổng hợp và đánh giá hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase một số dẫn chất của acid usnic</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5190" rel="alternate"/>
<author>
<name>Châu, Phương Vi</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Việt Cường</name>
</author>
<author>
<name>Mai, Thành Tấn</name>
</author>
<author>
<name>Tưởng, Lâm Trường</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5190</id>
<updated>2026-08-05T09:23:43Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Tổng hợp và đánh giá hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase một số dẫn chất của acid usnic
Châu, Phương Vi; Nguyễn, Việt Cường; Mai, Thành Tấn; Tưởng, Lâm Trường
Acid (+)-usnic từ Địa y Usnea là hợp chất tự nhiên có nhiều hoạt tính sinh học nhưng hiệu lực ức chế α-glucosidase còn hạn chế. α-glucosidase là đích tác dụng quan trọng trong kiểm soát đường huyết sau ăn, do đó việc tìm kiếm các chất ức chế mới từ nguồn tự nhiên là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này tổng hợp các dẫn xuất enamin mạch thẳng của acid usnic và đánh giá khả năng ức chế α-glucosidase nhằm xác định các biến đổi cấu trúc giúp cải thiện hoạt tính so với hợp chất ban đầu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Acid (+)-usnic là nguyên liệu được phân lập từ loài địa y Usnea aciculifera thu hái tại Đà Lạt (Lâm Đồng, Việt Nam) để tổng hợp các dẫn xuất enamin mạch thẳng bằng phản ứng với các amin tương ứng trong ethanol, theo dõi bằng sắc ký lớp mỏng và tinh chế bằng sắc ký cột. Việc xác định cấu trúc sản phẩm được thực hiện bằng phổ NMR và khối phổ MS. Hoạt tính ức chế α-glucosidase được đánh giá in vitro sử dụng enzym từ Saccharomyces cerevisiae với acarbose làm chứng dương. Kết quả: Tổng hợp được bốn dẫn chất enamin mạch thẳng của acid usnic với hiệu suất tốt (&gt; 65%). Dữ liệu phổ nghiệm xác nhận cấu trúc các hợp chất phù hợp với dự kiến. Kết quả thử nghiệm cho thấy các dẫn chất đều có hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase, trong đó hợp chất số 3 và số 4 thể hiện tác dụng mạnh với giá trị IC50 lần lượt là 73,47 ± 2,45 µM và 74,00 ± 1,81 µM, tốt hơn so với chất chứng dương acarbose (IC50 = 100,40 ± 3,85 µM). Kết luận: Đã tổng hợp được bốn dẫn chất enamin mạch thẳng của acid usnic, trong đó có 2 dẫn chất chưa được báo cáo trước đây theo tra cứu trên SciFinder (truy cập ngày 18/12/2025). Hợp chất 3 và 4 cho hoạt tính ức chế mạnh nhất, trong khi chất 1 cho kết quả trung bình. Kết quả này cho thấy việc biến đổi cấu trúc acid usnic là hướng tiếp cận tiềm năng nhằm phát triển các chất ức chế α-glucosidase mới từ nguồn dược liệu địa y.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Tổng hợp và thiết lập chất đối chiếu benazeprilat (tạp C) của benazepril hydroclorid</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5189" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Hòa Giang</name>
</author>
<author>
<name>Đỗ, Gia Huy</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Tuấn Anh</name>
</author>
<author>
<name>Mai, Hoài Thu</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Ngọc Dung</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5189</id>
<updated>2026-08-05T09:09:59Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Tổng hợp và thiết lập chất đối chiếu benazeprilat (tạp C) của benazepril hydroclorid
Nguyễn, Hòa Giang; Đỗ, Gia Huy; Nguyễn, Tuấn Anh; Mai, Hoài Thu; Nguyễn, Thị Ngọc Dung
Benazepril hydroclorid là một thuốc tim mạch thuộc nhóm thuốc ức chế men chuyển (angiotensin-converting enzyme (ACE) inhibitors), dùng trong điều trị tăng huyết áp. Tạp C, benazeprilat, được xác định là tạp quá trình và tạp phân hủy cần xác định trong nguyên liệu và thành phẩm theo Dược điển Mỹ (USP) 2025. Nghiên cứu nhằm tổng hợp tạp liên quan C và thiết lập chất đối chiếu sử dụng trong kiểm tinh khiết benazepril, bổ sung vào danh mục chất chuẩn tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tạp C của benazepril hydroclorid được tổng hợp bằng phản ứng thủy phân nhóm ester của benazepril trong môi trường kiềm và xác nhận cấu trúc bằng các dữ liệu phổ. Độ tinh khiết của tạp C được xác định bằng sắc ký lớp mỏng, đo điểm chảy và sắc ký lỏng hiệu năng cao. Tạp C sau đó được đánh giá và thiết lập chuẩn đối chiếu. Kết quả: Tạp C được tổng hợp thành công và tinh chế với hiệu suất 63,3% (1,51 g). Độ tinh khiết của tạp C, tính trên nguyên trạng, đạt trên 98%. Do đó, tạp C thích hợp để thiết lập chất đối chiếu. Tạp C có giá trị ấn định là 99,63%. Quy trình định lượng tạp C được thực hiện bằng phương pháp HPLC theo USP 43. Kết luận: Tạp C đã được tổng hợp và tinh chế thành công và được tiêu chuẩn hóa làm chất đối chiếu cho kiểm tinh khiết benazepril.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Khảo sát việc sử dụng voriconazol trong điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5188" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Thiên Dung</name>
</author>
<author>
<name>Mai, Phương Thảo</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Tử Thiện Tâm</name>
</author>
<author>
<name>Đặng, Nguyễn Đoan Trang</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5188</id>
<updated>2026-08-05T09:06:37Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Khảo sát việc sử dụng voriconazol trong điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn, Thiên Dung; Mai, Phương Thảo; Nguyễn, Tử Thiện Tâm; Đặng, Nguyễn Đoan Trang
Voriconazol là thuốc kháng nấm đầu tay trong điều trị nhiễm nấm xâm lấn do Aspergillus và xuống thang trong một số trường hợp nhiễm Candida. Việc sử dụng hợp lý voriconazol giúp tối ưu hoá điều trị và giảm thiểu độc tính do thuốc. Với mục tiêu khảo sát đặc điểm sử dụng và độc tính liên quan đến voriconazol trên bệnh nhân được chỉ định voriconazol điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD TP.HCM). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được chỉ định voriconazol điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại BV ĐHYD TP.HCM từ tháng 10/2021 đến tháng 03/2025. Thông tin về đặc điểm dịch tễ, vi sinh, sử dụng thuốc và các độc tính liên quan được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án. Kết quả: Có 220 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tuổi trung là 65,7 ± 14,1, nam giới chiếm 57,7%. Có 50% dân số nghiên cứu có bệnh nền đái tháo đường. Có 37,7% bệnh nhân có bằng chứng chắc chắn nhiễm nấm xâm lấn và Aspergillus là tác nhân được phân lập với tỷ lệ cao nhất (54,5%). Trung vị liều tải và liều duy trì voriconazol lần lượt là 6,1 (5,6 - 6,9) mg/kg/liều và 3,6 (3,1 - 4,0) mg/kg/liều. Các chế độ liều thấp hơn được ghi nhận trên bệnh nhân xơ gan. Tỷ lệ phù hợp về liều so với hướng dẫn bệnh viện của liều tải và liều duy trì lần lượt là 53,0% và 75,0%. Độc tính trên gan xuất hiện trên 16,1% bệnh nhân với thời điểm khởi phát trung vị là 7,0 (3,0 - 9,0) ngày. Có 14 bệnh nhân được ghi nhận độc tính trên thần kinh và/hoặc thị giác. Hầu hết các độc tính thuyên giảm sau khi giảm liều mà không cần phải ngừng thuốc. Kết luận: Tỷ lệ hợp lý về liều tải voriconazol còn thấp, trong khi đó liều duy trì tương đối tuân thủ hướng dẫn điều trị và phù hợp với các khuyến cáo trên bệnh nhân châu Á. Cần tối ưu chế độ liều kinh nghiệm cũng như theo dõi nồng độ thuốc để hạn chế độc tính của voriconazol trong quá trình sử dụng.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Khảo sát so sánh thành phần hoá học và tác dụng chống oxi hoá, ức chế α-glucosidase của các bộ phận dùng khác nhau từ cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz)</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5187" rel="alternate"/>
<author>
<name>Trần, Thanh Ngân</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Quỳnh Nga</name>
</author>
<author>
<name>Thạch, Anh Chương</name>
</author>
<author>
<name>Đào, Quốc Huy</name>
</author>
<author>
<name>Trần, Thị Vân Anh</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5187</id>
<updated>2026-08-05T08:58:59Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Khảo sát so sánh thành phần hoá học và tác dụng chống oxi hoá, ức chế α-glucosidase của các bộ phận dùng khác nhau từ cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz)
Trần, Thanh Ngân; Nguyễn, Thị Quỳnh Nga; Thạch, Anh Chương; Đào, Quốc Huy; Trần, Thị Vân Anh
Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz) được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền Châu Á, tuy nhiên chưa có đánh giá so sánh về thành phần hóa học và tác dụng sinh học giữa các bộ phận dùng. Với mục tiêu nghiên cứu thực hiện so sánh thành phần hóa học và tác dụng chống oxi hóa, ức chế α-glucosidase của cao chiết từ các bộ phận dùng khác nhau Núc nác. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Núc nác (vỏ thân, vỏ rễ, hoa, lá và hạt) được chiết với cồn 96%, cồn 50% và nước. Các cao được so sánh về thành phần hoá học (sắc kí lớp mỏng, sắc kí lỏng hiệu năng cao), đánh giá hàm lượng polyphenol toàn phần (phương pháp Folin Ciocalteu), khả năng chống oxi hoá (thử nghiệm DPPH) và tác dụng ức chế enzym α-glucosidase. Kết quả: Thành phần hóa học các bộ phận dùng có sự khác biệt, thành phần chính là flavonoid. Các cao cồn 50% có hàm lượng polyphenol cao và thể hiện hoạt tính tốt nhất. Cao cồn 50% của hạt và vỏ rễ có IC₅₀ gấp 2,7 lần vitamin C trong thử nghiệm DPPH; cao cồn 50% vỏ thân có IC50 thấp hơn 10,4 lần so với acarbose trong thử nghiệm ức chế α-glucosidase. Kết luận: Các bộ phận dùng Núc nác có sự khác biệt về thành phần hóa học dẫn đến đến sự khác nhau về hoạt tính sinh học.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
