<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<title>Y tế</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/13" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/13</id>
<updated>2026-07-31T09:06:13Z</updated>
<dc:date>2026-07-31T09:06:13Z</dc:date>
<entry>
<title>Giáo dục tự quản lý hen ở trẻ em: Ứng dụng điện thoại hay sổ viết tay hiệu quả hơn?</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5171" rel="alternate"/>
<author>
<name>Trần, Thị Bích Ty</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thùy Vân Thảo</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Xuân Trang</name>
</author>
<author>
<name>Trần, Thị Huệ</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Diệp</name>
</author>
<author>
<name>Phan, Thị Phượng</name>
</author>
<author>
<name>Phạm, Thị Tú</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Mỹ Viện</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Huy Luân</name>
</author>
<author>
<name>Phạm, Thị Minh Hồng</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5171</id>
<updated>2026-07-30T09:02:46Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Giáo dục tự quản lý hen ở trẻ em: Ứng dụng điện thoại hay sổ viết tay hiệu quả hơn?
Trần, Thị Bích Ty; Nguyễn, Thùy Vân Thảo; Nguyễn, Thị Xuân Trang; Trần, Thị Huệ; Nguyễn, Thị Diệp; Phan, Thị Phượng; Phạm, Thị Tú; Nguyễn, Thị Mỹ Viện; Nguyễn, Huy Luân; Phạm, Thị Minh Hồng
Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ không kiểm soát hen còn cao (40%-65,5%), cho thấy việc quản lý hen còn hạn chế. Dù đã được chứng minh hiệu quả trên thế giới, chưa có ứng dụng điện thoại nào được phát triển tại Việt Nam để quản lý hen trẻ em. Mục tiêu: So sánh hiệu quả giáo dục tự quản lý hen trẻ em bằng ứng dụng Kid asthma action plan (KAAP) và sổ tay hen (STH). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu so sánh không ngẫu nhiên trên 64 trẻ hen (18 tháng-&lt;16 tuổi) tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Trẻ được phân ngẫu nhiên dùng KAAP/STH. Mức độ tuân thủ điều trị hen, mức độ hài lòng của thân nhân được theo dõi mỗi tháng trong 3 tháng. Kết quả: Sau 3 tháng, tỷ lệ trẻ kiểm soát hen tốt liên tục đạt 62,5% (KAAP: 70%; STH: 55,9%; p=0,24). Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm về tuân thủ điều trị. Tuy nhiên, nhóm STH tuân thủ ghi nhật ký hen tốt hơn (73,5% so với 20%, p &lt;0,01). Mức độ hài lòng ở cả 2 nhóm đều cao (KAAP &gt;60%, STH &gt;70%, p &gt;0,05). Kết luận: KAAP mang lại hiệu quả quản lý hen và trải nghiệm tốt cho thân nhân không khác biệt đáng kể so với STH.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Khảo sát sự phối hợp mạng lưới của các nhóm thuốc trong đơn thuốc sắc y học cổ truyền điều trị đau thần kinh tọa dựa trên dữ liệu lâm sàng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5169" rel="alternate"/>
<author>
<name>Vương, Thị Thanh Vân</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Tuyết Ly</name>
</author>
<author>
<name>Kiều, Quốc Việt</name>
</author>
<author>
<name>Phạm, Đức Thắng</name>
</author>
<author>
<name>Trần, Hòa An</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5169</id>
<updated>2026-07-30T04:12:49Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Khảo sát sự phối hợp mạng lưới của các nhóm thuốc trong đơn thuốc sắc y học cổ truyền điều trị đau thần kinh tọa dựa trên dữ liệu lâm sàng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh
Vương, Thị Thanh Vân; Nguyễn, Thị Tuyết Ly; Kiều, Quốc Việt; Phạm, Đức Thắng; Trần, Hòa An
Đau thần kinh tọa (TKT) gây suy giảm chức năng và ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống. Điều trị bằng Y học cổ truyền (YHCT) cho thấy hiệu quả tích cực, tuy nhiên quy luật phối hợp các nhóm thuốc trong thực hành vẫn chưa được biết. Với mục tiêu: Khảo sát mạng lưới phối hợp các nhóm thuốc trong các bài thuốc sắc điều trị đau TKT dựa trên dữ liệu lâm sàng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả 506 đơn thuốc sắc điều trị đau TKT tại bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Sử dụng thống kê mô tả và phân tích mạng lưới để xác định sự phối hợp các nhóm thuốc. Kết quả: Có 23/29 nhóm thuốc được sử dụng; phổ biến nhất là bổ dương bổ khí (97,4%), hoạt huyết khử ứ (78,3%) và bổ âm bổ huyết (70,8%). Phân tích mạng lưới cho thấy bổ dương bổ khí và hoạt huyết khử ứ là hai nhóm trung tâm, có độ trung tâm bậc và trung tâm trung gian cao nhất, đồng thời là cặp phối hợp thường xuyên nhất (75,9%). Các nhóm thuốc khác đóng vai trò vệ tinh, hỗ trợ theo triệu chứng. Kết luận: Phác đồ nhóm thuốc chủ đạo tập trung vào chiến lược bồi bổ chính khí và hoạt huyết thông lạc. Thực hành kê đơn thể hiện tính linh hoạt và cá thể hóa cao.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Tỉ lệ huyết thanh IgG dương tính với Toxocara spp. và kết quả điều trị bằng albendazol trên bệnh nhân mày đay mạn tính</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5168" rel="alternate"/>
<author>
<name>Huỳnh, Như</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Văn Thống</name>
</author>
<author>
<name>Trịnh, Thị Hồng Của</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5168</id>
<updated>2026-07-30T04:08:32Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Tỉ lệ huyết thanh IgG dương tính với Toxocara spp. và kết quả điều trị bằng albendazol trên bệnh nhân mày đay mạn tính
Huỳnh, Như; Nguyễn, Văn Thống; Trịnh, Thị Hồng Của
Mày đay mạn tính (MĐMT) được đặc trưng bởi sẩn phù, phù mạch hoặc cả hai kéo dài trên 6 tuần. Nhiễm ký sinh trùng, đặc biệt Toxocara spp., được ghi nhận có liên quan đến bệnh. Albendazol là thuốc lựa chọn hàng đầu. Tại Việt Nam, dữ liệu về tỉ lệ huyết thanh dương tính và hiệu quả điều trị Toxocara spp. bằng albendazol trên bệnh nhân MĐMT còn hạn chế. Với mục tiêu xác định tỉ lệ huyết thanh IgG dương tính Toxocara spp., mô tả diễn tiến lâm sàng và huyết thanh sau điều trị ở nhóm IgG dương tính trên bệnh nhân mày đay mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp theo dõi trước – sau điều trị trên 380 bệnh nhân mày đay mạn tính. Bệnh nhân có huyết thanh IgG dương tính với Toxocara spp. được điều trị bằng albendazol 800 mg/ngày và loratadine 10 mg/ngày trong 21 ngày. Đánh giá kết quả điều trị sau 14 ngày và 3 tháng. Kết quả: Tỉ lệ huyết thanh IgG dương tính với Toxocara spp. là 37,6%. Sau 3 tháng, 92,5% bệnh nhân hết sẩn phù và ngứa; 82,1% giảm nồng độ huyết thanh IgG (p &lt;0,001). Tăng ALT chiểm 14,7% trường hợp.  Kết luận: Tỉ lệ huyết thanh IgG dương tính Toxocara spp. khá cao trên bệnh nhân mày đay mạn tính. Albendazol có thể liên quan đến sự cải thiện triệu chứng lâm sàng và được dung nạp tốt.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Kiến thức về dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên Điều dưỡng Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5167" rel="alternate"/>
<author>
<name>Đặng, Thị Yến</name>
</author>
<author>
<name>Lê, Thị Hoàn</name>
</author>
<author>
<name>Lê, Thị Tú Nguyên</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5167</id>
<updated>2026-07-30T04:05:44Z</updated>
<published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Kiến thức về dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên Điều dưỡng Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan
Đặng, Thị Yến; Lê, Thị Hoàn; Lê, Thị Tú Nguyên
Tổn thương do vật sắc nhọn được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tổn thương nghề nghiệp cho sinh viên điều dưỡng trên toàn cầu. Việc trang bị kiến thức về dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn đúng đắn sẽ giúp sinh viên giảm thiểu được tối đa nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm và ảnh hưởng nặng nề đối với sức khỏe tinh thần. Với mục tiêu khảo sát kiến thức và các yếu tố liên quan đến dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên cử nhân điều dưỡng năm 2, năm 3, năm 4 Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 360 sinh viên điều dưỡng 3 năm cuối năm học 2024-2025, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8/2024 đến tháng 5/2025. Thang đo đánh giá kiến thức với điểm cắt 60%.  Kết quả cho thấy tỉ lệ sinh viên có kiến thức đạt về dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn là 78,6% và có kiến thức chưa đạt là 21,4%. Tìm thấy mối liên quan giữa đã từng tiêm vắc-xin viêm gan B, đã từng tổn thương do vật sắc nhọn, đã tìm hiểu thông tin về vật sắc nhọn với kiến thức của người tham gia (p &lt;0,05). Sinh viên điều dưỡng năm 4 có kiến thức đạt cao hơn so với sinh viên năm 2 (p &lt;0,001). Bên cạnh đó, sinh viên xếp loại Khá trong học phần lý thuyết Kiểm soát nhiễm khuẩn đạt kiến thức cao hơn so với sinh viên xếp loại Xuất sắc - Giỏi (p &lt;0,001). Ghi nhận sinh viên xếp loại Trung bình trong điểm trung bình tích lũy với kiến thức thấp hơn sinh viên xếp loại Xuất sắc – giỏi (p=0,002). Kết luận: Đa số sinh viên có kiến thức đạt về dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn. Cần tăng cường cập nhật kiến thức và các quy định đúng về dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn cho sinh viên. Bên cạnh đó cần thường xuyên lồng ghép, củng cố lại kiến thức đã học vào thực hành lâm sàng của sinh viên.
</summary>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
