<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<title>Y, DƯỢC</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/2" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/2</id>
<updated>2026-06-15T19:24:57Z</updated>
<dc:date>2026-06-15T19:24:57Z</dc:date>
<entry>
<title>Mối liên quan giữa động lực học tập, tình trạng sức khỏe tâm thần và kết quả học tập của học sinh tại Hà Nội</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5136" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Văn Trung</name>
</author>
<author>
<name>Ngô, Anh Vinh</name>
</author>
<author>
<name>Đinh, Dương Tùng Anh</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Thuý Hường</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5136</id>
<updated>2025-10-27T03:16:57Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Mối liên quan giữa động lực học tập, tình trạng sức khỏe tâm thần và kết quả học tập của học sinh tại Hà Nội
Nguyễn, Văn Trung; Ngô, Anh Vinh; Đinh, Dương Tùng Anh; Nguyễn, Thị Thuý Hường
Nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa động lực học tập, tình trạng sức khỏe tâm thần và kết quả học tập của học sinh tại Hà Nội. Phương pháp: Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 537 học sinh lớp 6 tại trường THCS Ngô Sĩ Liên, Hà Nội. Dữ liệu được thu thập qua bộ câu hỏi cấu trúc, thang đo Short Mood and Feelings Questionnaire (SMFQ) để đánh giá nguy cơ trầm cảm và thang Academic Motivation Scale để đo lường động lực học tập. Phân tích số liệu sử dụng phần mềm Stata 16.0 với các kiểm định Chi-square và mô hình hồi quy logistic bậc thang. Kết quả: Tỷ lệ học sinh có nguy cơ trầm cảm (SMFQ ≥ 12) là 5,2%. Nguy cơ trầm cảm liên quan tiêu cực đến kết quả học tập trong mô hình ban đầu (OR = 0,67, p &lt; 0,05) nhưng không còn ý nghĩa khi điều chỉnh động lực học tập. Học sinh nam có kết quả học tập thấp hơn học sinh nữ (OR = 0,58, p &lt; 0,05). Kinh tế gia đình cao liên quan tích cực với kết quả học tập (OR = 2,59, p &lt; 0,05). Động lực ngoại tại từ áp lực (EMIN) có mối liên quan tích cực với kết quả học tập (OR = 1,38, p &lt; 0,05), trong khi động lực học tập tiêu cực (AM) có mối liên quan tiêu cực (OR = 0,80, p &lt; 0,05). Kết luận: Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò trung gian quan trọng của động lực học tập trong mối liên quan giữa sức khỏe tâm thần và kết quả học tập. Việc cải thiện động lực học tập, đặc biệt là khuyến khích động lực nội tại, có thể là chiến lược hiệu quả để nâng cao kết quả học tập của học sinh
Mối liên quan giữa động lực học tập, tình trạng sức khỏe tâm thần và kết quả học tập của học sinh tại Hà Nội
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Chất lượng hình ảnh của cắt lớp vi tính liều thấp trong theo dõi các bệnh nhân chấn thương sọ não</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5119" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Đình Minh</name>
</author>
<author>
<name>Phạm, Thị Nga</name>
</author>
<author>
<name>Trần, Quang Hải</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5119</id>
<updated>2025-10-24T09:40:06Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Chất lượng hình ảnh của cắt lớp vi tính liều thấp trong theo dõi các bệnh nhân chấn thương sọ não
Nguyễn, Đình Minh; Phạm, Thị Nga; Trần, Quang Hải
Đánh giá chất lượng hình ảnh trên cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT) trong theo dõi chấn thương sọ não (CTSN). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả so sánh 36 bệnh nhân (BN) đang điều trị CTSN được chụp LDCT sọ não để theo dõi với tham số 80kV và so sánh chụp liều tiêu chuẩn (SDCT) với 130kV khi vào viện tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 3/2024 đến tháng 10/2024. Liều chiếu của các BN được thu thập qua các thông số chỉ số liều (CTDIvol), liều tích lũy (DLP) và liều hiệu dụng (ED). Chất lượng hình ảnh được so sánh dựa trên qua các tiêu chí như nhiễu, nhiễu ảnh, giải phẫu, não thất, dịch não tủy, đường giữa, phân biệt chất trắng – chất xám, máu tụ, ranh giới máu tụ, dị vật sau mổ bằng cách cho điểm (1- hình ảnh chất lượng tốt, 2- hình ảnh chấp nhận được, 3- không chấp nhận được). Kết quả: CTDIvol trên LDCT giảm 35% so với trên SDCT. DLP và ED giảm 45% trên LDCT so với SDCT. Phần lớn hình ảnh LDCT (97%) được đánh giá là đủ chất lượng chẩn đoán (điểm 1 và 2). Mặt khác, trên 60% BN được đánh giá có chất lượng hình ảnh LDCT tương đương với SDCT. Các tổn thương não như máu tụ, ranh giới máu tụ, dị vật sau mổ có khác biệt không đáng kể về chất lượng hình ảnh. Kết luận: chụp LDCT giảm đáng kể liều chiếu trong khi vẫn đáp ứng được chất lượng hình ảnh để chẩn đoán trong theo dõi các trường hợp đang điều trị CTSN
Chất lượng hình ảnh của cắt lớp vi tính liều thấp trong theo dõi các bệnh nhân chấn thương sọ não
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5118" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Thanh Chơn</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Văn Lâm</name>
</author>
<author>
<name>Ngô, Trí Minh Phương</name>
</author>
<author>
<name>Võ, Thị Hậu</name>
</author>
<author>
<name>Hoàng, Minh Tú</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Hữu Giàu</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5118</id>
<updated>2025-10-24T09:38:15Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa
Nguyễn, Thanh Chơn; Nguyễn, Văn Lâm; Ngô, Trí Minh Phương; Võ, Thị Hậu; Hoàng, Minh Tú; Nguyễn, Hữu Giàu
Có nhiều phương pháp kết hợp xương cho điều trị gãy kín thân xương cánh tay. Sử dụng nẹp khóa, cho phép sử dụng vít thông thường và vít khóa, giúp ổn định và hạn chế biến chứng, đồng thời cho phép bệnh nhân vận động sớm. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm chung và đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, can thiệp lâm sàng không nhóm chứng ở 31 bệnh nhân được chẩn đoán gãy kín thân xương cánh tay 1 hoặc 2 bên và có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương nẹp bằng khóa. Kết quả: Độ tuổi thường gặp nhất là 16-40 tuổi, với nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (29%). Bệnh nhân gãy loại A tại 1/3 giữa theo phân độ AO chiếm tỷ lệ cao nhất 48,4%. Kết quả liền xương rất tốt chiếm tỷ lệ cao nhất là 96,8%; không có bệnh nhân nào cho kết quả liền xương trung bình và kém. Về kết quả phục hồi chức năng khớp vai và khớp khuỷu, phục hồi chức năng rất tốt chiếm tỷ lệ 96,8%; không có kết quả trung bình và kém. Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương nẹp bằng khóa điều trị gãy kín thân xương cánh tay an toàn và kết quả tốt.
Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Áp dụng thang điểm NEWS trong cảnh báo sớm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5117" rel="alternate"/>
<author>
<name>Vũ, Xuân Thắng</name>
</author>
<author>
<name>Ngô, Thị Thúy</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Minh Hiếu</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5117</id>
<updated>2025-10-24T09:34:48Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Áp dụng thang điểm NEWS trong cảnh báo sớm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Vũ, Xuân Thắng; Ngô, Thị Thúy; Nguyễn, Minh Hiếu
Đánh giá thang điểm NEWS, so sánh với thang điểm qSOFA và SIRS về dự đoán các hậu quả liên quan đến nhiễm khuẩn huyết tại khu vực phân loại cấp cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu. Kết quả: Điểm NEWS, qSOFA và SIRS cao hơn ở nhóm bệnh nhân cần sử dụng thuốc vận mạch, thở máy và vào điều trị tại ICU (p&lt;0,05); Thang điểm NEWS có giá trị tốt hơn thang điểm qSOFA và SIRS trong tiên lượng bệnh nhân phải sử dụng thuốc vận mạch (AUC = 0,854), tiên lượng bệnh nhân thở máy (AUC = 0,862); tiên lượng bệnh nhân nhập ICU với AUC = 0,864 và tiên lượng bệnh nhân tử vong với AUC = 0,821. Kết luận: Thang điểm NEWS có giá trị tốt hơn thang điểm qSOFA và SIRS trong tiên lượng bệnh nhân phải sử dụng thuốc vận mạch, phải thở máy, bệnh nhân nhập ICU và tiên lượng bệnh nhân tử vong
Áp dụng thang điểm NEWS trong cảnh báo sớm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
