<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<title>Chính sách phát triển</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/6" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/6</id>
<updated>2026-05-07T15:21:29Z</updated>
<dc:date>2026-05-07T15:21:29Z</dc:date>
<entry>
<title>Ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) xác định khu vực thích hợp cho chăn nuôi lợn tập trung huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5002" rel="alternate"/>
<author>
<name>Hữu Dương, Nông</name>
</author>
<author>
<name>Thu Thùy, Nguyễn</name>
</author>
<author>
<name>Thị Xuân, Vũ</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5002</id>
<updated>2025-06-19T10:00:39Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) xác định khu vực thích hợp cho chăn nuôi lợn tập trung huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Hữu Dương, Nông; Thu Thùy, Nguyễn; Thị Xuân, Vũ
Trong chăn nuôi, việc đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và tối ưu hóa tài nguyên đóng vai trò rất quan trọng. Do vậy, việc lựa chọn vị trí trang trại phù hợp là điều rất cần thiết. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định khu vực phù hợp cho chăn nuôi lợn tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang thông qua việc đánh giá tổng hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu này sử dụng Hệ thống thông tin Địa lý (GIS) kết hợp với phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) để xây dựng bộ tiêu chí, xác định trọng số cho từng chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu, sau đó áp dụng phương pháp chồng xếp có trọng số trong GIS để thành lập bản đồ phân vùng mức độ phù hợp. Kết quả cho thấy các khu vực được phân loại thành bốn mức độ khác nhau gồm “không phù hợp”, “ít phù hợp”, “phù hợp” và “rất phù hợp”, từ đó cung cấp bản đồ phân vùng chi tiết cho việc lựa chọn địa điểm chăn nuôi. Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của việc kết hợp GIS và AHP trong hỗ trợ ra quyết định đa chỉ tiêu, góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi lợn.
Ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) xác định khu vực thích hợp cho chăn nuôi lợn
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Tổng quan chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa gạo: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4999" rel="alternate"/>
<author>
<name>Thị Việt Anh, Bùi</name>
</author>
<author>
<name>Phượng Lê, Nguyễn</name>
</author>
<author>
<name>Thị Thanh Loan, Lê</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4999</id>
<updated>2025-06-19T09:48:28Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Tổng quan chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa gạo: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Thị Việt Anh, Bùi; Phượng Lê, Nguyễn; Thị Thanh Loan, Lê
Bảo hiểm nông nghiệp là công cụ bảo hiểm rủi ro cho người sản xuất nông nghiệp, giúp họ có thể phục hồi nhanh hơn sau các cú sốc, đồng thời thúc đẩy quản trị sản xuất tốt hơn. Để phát triển và đưa bảo hiểm nông nghiệp vào áp dụng trong thực tiễn cho cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng và thực hiện nhiều chính sách khác nhau. Bài viết sử dụng phương pháp khảo cứu, tổng quan và phân tích dữ liệu từ các bài báo khoa học, các báo cáo nghiên cứu, các website chính thức và một số đánh giá từ khảo sát trực tiếp năm 2024 nhằm mục tiêu: (i) Tổng hợp và phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trong xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng; (ii) Rút ra một số bài học kinh nghiệm và (iii) Đề xuất một số khuyến nghị cho thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tổng quan chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa gạo
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Chất thải nông nghiệp và tiềm năng phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4645" rel="alternate"/>
<author>
<name>Văn Trịnh, Mai</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4645</id>
<updated>2023-07-12T04:26:40Z</updated>
<published>2021-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Chất thải nông nghiệp và tiềm năng phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn
Văn Trịnh, Mai
Kết quả nghiên cứu cho thấy hằng năm từ phụ phẩm trồng trọt có thể sản xuất được lượng phân bón tương đương với 43,4 triệu tấn hữu cơ, 1,86 triệu tấn đạm urê, 1,68 triệu tấn supe lân đơn và 2,23 triệu tấn kali sunfat. Từ chất thải chăn nuôi có thể sản xuất lượng phân bón tương đương với 42 triệu tấn hữu cơ nguyên chất, 1,2 triệu tấn đạm urê, 3,1 triệu tấn supe lân đơn và 2,4 triệu tấn kali sunfat. Chất thải từ cả 2 lĩnh vực có thể cung cấp cho sản xuất lượng phân bón tương đương với 85,4 triệu tấn hữu cơ, 3,06 triệu tấn đạm urê, 4,78 triệu tấn supe lân đơn và 4,63 triệu tấn kali sunfat. Tuy nhiên hiện trạng sử dụng các loại chất thải này ở mức rất thấp, vừa không tận dụng được nguồn tài nguyên, vừa phát thải ra và gây ô nhiễm môi trường. Việc tăng cường tuần hoàn tái sử dụng lại các loại chất thải này cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa 2 lĩnh vực, kết hợp với chính sách của Nhà nước làm thông thoáng và tăng thu nhập từ chất thải và phụ phẩm trong các trang trại thì mới khắc phục, hạn chế được tinh trạng ô nhiễm, đáp ứng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn và tiến đến một nền nông nghiệp bền vững.
pdf
</summary>
<dc:date>2021-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Nghiên cứu khả năng nhân giống Thù lù cạnh bằng hạt - Giải pháp nâng cao thu nhập cho ngành Nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4643" rel="alternate"/>
<author>
<name>Thị Thanh Hương, Phạm</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4643</id>
<updated>2023-07-12T04:07:31Z</updated>
<published>2021-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Nghiên cứu khả năng nhân giống Thù lù cạnh bằng hạt - Giải pháp nâng cao thu nhập cho ngành Nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
Thị Thanh Hương, Phạm
Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng nhân giống Thù lù cạnh qua khả năng nảy mầm hạt sau khi xử lý hạt bằng ngâm nước ở các nhiệt độ khác nhau (nhiệt độ thường, 25°C, 45°C, 60°C, 100°C) trong 3 giờ rồi vớt ra: 1) Ủ trên đĩa pertri, 2) Gieo hạt trực tiếp trên giá thể đất nền vườn ươm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nảy mầm trung bình của hạt giống Thù lù cạnh ngâm ở nhiệt độ 45°c trong 3 giờ và sau 10 ngày gieo trên đĩa petri là cao nhất, dao động từ 53,33- 58,00%, còn tỷ lệ này với hạt giống ngâm ở nhiệt độ thường và 25°c chỉ dao động từ 24.53-48.27%. Ở điều kiện tối ưu này, tỷ lệ nảy mầm trung bình cao nhất của hạt giống xuất xứ Bến Tre và An Giang tương ứng là 58.00% và 53.33%. Tương tự, khi sử dụng giá thể đất nền vườn ươm, hạt giống xuất xứ Bến Tre và An Giang cho tỷ lệ nảy mầm đạt tương ứng là 88.00% và 83,33%. Kết quả này bước đầu cho thấy hạt được thu thập ở các vùng sinh thái khác nhau có tỷ lệ nảy mầm không khác nhau nhiều khi gieo trên cùng điều kiện thí nghiệm, bên cạnh đó tỷ lệ nảy mầm cũng phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng và môi trường. Hạt giống xử lý trong điều kiện tối ưu là nhiệt độ 45°c trong 3 giờ. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để nghiên cứu tiếp theo trong việc phát triển các tiêu chuẩn cao về chất lượng hạt giống.
pdf
</summary>
<dc:date>2021-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
