<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<channel rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/21">
<title>Môi trường nước</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/21</link>
<description/>
<items>
<rdf:Seq>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5071"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5006"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4873"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4813"/>
</rdf:Seq>
</items>
<dc:date>2026-05-07T15:21:16Z</dc:date>
</channel>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5071">
<title>Nghiên cứu đánh giá vi nhựa trong vẹm xanh (Perna viridis) tại một số khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5071</link>
<description>Nghiên cứu đánh giá vi nhựa trong vẹm xanh (Perna viridis) tại một số khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh
Dương, Tuấn Mạnh; Lê, Xuân Thanh Thảo; Huỳnh, Đức Long; Đỗ, Văn Mạnh
Nghiên cứu này tập trung vào xác định sự hiện diện của vi nhựa trong loài vẹm xanh (Perna viridis) thu thập từ bốn khu vực: Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái và đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh. Vi nhựa trong vẹm xanh sau khi tách chiết được phân tích bằng kính hiển vi hồng ngoại Nicolet iN10 MX. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 91,7% cá thể vẹm xanh nghiên cứu có chứa vi nhựa. Giá trị mật độ dao động trong khoảng từ 0,45±0,41 đến 0,91±0,78 vi nhựa/g thịt ướt và từ 2,73±2,02 đến 5,33±4,61 vi nhựa/cá thể. Phần lớn các vi nhựa có kích thước nhỏ hơn 150 µm, vi nhựa nhỏ nhất được phát hiện có chiều dài 22,5 µm và lớn nhất là 1269,6 µm. Vi nhựa được phát hiện chủ yếu ở dạng mảnh. Một số chủng loại polyme phổ biến sử dụng để sản xuất nhựa được tìm thấy như: polyethylene terephthalate (PET), polyamide (PA), polyethylene (PE), polypropylene (PP) và một số loại khác, trong đó PET chiếm tỷ lệ nhiều nhất, tới 67,9% trên tổng số vi nhựa phát hiện. Kết quả thu được từ nghiên cứu này là tiền đề đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của vi nhựa đối với sức khỏe con người và bổ sung dữ liệu ô nhiễm vi nhựa trong môi trường tại Việt Nam.
Nghiên cứu đánh giá vi nhựa trong vẹm xanh (Perna viridis) tại một số khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh
</description>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5006">
<title>Đánh giá khả năng ứng dụng số liệu sóng tái phân tích cho khu vực Biển Đông</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5006</link>
<description>Đánh giá khả năng ứng dụng số liệu sóng tái phân tích cho khu vực Biển Đông
Xuân Hiển, Nguyễn; Ngọc Tiến, Dương; Thị Vui, Vũ; Ngọc Ánh, Giáp; Hoàng Anh, Cao
Bài báo đánh giá độ tin cậy và khả năng ứng dụng các nguồn số liệu độ cao sóng tái phân tích khác nhau của Trung tâm Dự báo Thời tiết hạn vừa Châu Âu (ECMWF) và Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) tại khu vực biển Việt Nam. Số liệu quan trắc từ các trạm phao cố định tại khu vực biển Việt Nam được sử dụng để so sánh, đánh giá mức độ tương đồng với số liệu độ cao sóng tái phân tích. Kết quả đánh giá cho thấy cả hai nguồn dữ liệu độ cao sóng tái phân tích đều tương đồng cao với độ cao sóng đo đạc từ trạm phao nhưng mức độ tương đồng của ECMWF cao hơn. Cả hai nguồn số liệu độ cao sóng tái phân tích đều thấp hơn độ cao sóng thực đo tại trạm phao tại các thời điểm sóng lớn. Nghiên cứu cũng đề xuất phương án sử dụng hàm chuyển để hiệu chỉnh, ứng dụng số liệu sóng tái phân tích và đánh giá khả năng ứng dụng của các nguồn số liệu sóng tái phân tích.
Đánh giá khả năng ứng dụng số liệu sóng tái phân tích cho khu vực Biển Đông
</description>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4873">
<title>Chất lượng môi trường đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Long An</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4873</link>
<description>Chất lượng môi trường đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Long An
Lê, Diễm Kiều; Phạm, Quốc Nguyên
Tóm tắt nội dung: Nghiên cứu hiện trạng chất lượng đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu về chất lượng môi  trường đất phục vụ cho công tác bảo tồn, thông qua     &#13;
thông số pHH2O, pHKCl, độ dẫn điện, axit tổng, chất hữu cơ, đạm tổng và lân tổng của tầng đất 0-20cm và 20-50cm ở các tiểu khu 5, 6, 9, 10, 11 và 12 vào mùa khô (2023). Kết quả đã ghi nhận được đất ở khu vực nghiên cứu có tính axit cao với pHH2O, pHKCl, axit tổng lần lượt 2,60-4,27; 2,60-3,63 và 2,92-19,63meq H+/100g đất. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng của đất khá cao, tuy nhiên hàm lượng lân tổng ở mức thấp lần lượt là 8,09-24,15%; 0,29-2,27%; 0,006-0,021%. Đất ở tầng 0-20m có pH, độ dẫn điện, chất hữu cơ, đạm tổng, lân tổng cao hơn so với tầng 20-50cm ở hầu hết các tiểu khu. Tiểu khu 9, 10 và 5 có pH cao hơn nhưng lại có axit tổng, chất hữu cơ, đạm và lân tổng thấp hơn các tiểu khu còn lại. Sự biến động các thành phần lý, hóa học đất ở các tiểu khu và theo tầng chịu ảnh   hưởng nhiều của chế độ quản lý nước. Chất lượng đất hầu hết đều phù hợp cho sinh trưởng của các loài thực vật ưu thế ở các tiểu khu, tuy nhiên nên hạn chế tình trạng khô hạn vào cuối mùa khô ở tiểu khu 6, 11 và 12 và tình trạng ngập nước liên tục ở tiểu khu 9 và 10.
Chất lượng môi trường đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Long An
</description>
<dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4813">
<title>Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình bốc hơi nước ngầm đến lượng bổ cập tự nhiên của tầng chứa nước Holocene trong các giồng cát tỉnh Bến Tre, Việt Nam</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4813</link>
<description>Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình bốc hơi nước ngầm đến lượng bổ cập tự nhiên của tầng chứa nước Holocene trong các giồng cát tỉnh Bến Tre, Việt Nam
Huy Vượng, Nguyễn; Văn Quang, Trần; Thị Nhớ;, Nguyễn; Tuấn, Phạm; Bá Thao, Vũ
Địa hình các giồng cát trên địa bàn tỉnh Bến Tre phân bố thành các dải có chiều dày mỏng chạy song song và dốc thoải về đường bờ biển, với tổng diện tích khoảng 12.179 ha. Các giồng cát này có kích thước khác nhau về chiều rộng và chiều dài, chiều rộng thay đổi từ 100 đến 620 m, chiều dài từ 1.200 đến 7.200 m. Thành phần thạch học trong giồng cát chủ yếu là cát hạt mịn, có kích thước lỗ rỗng lớn. Thảm phủ thực vật thưa thớt, số giờ nắng trong năm nhiều, nhiệt độ không khí và lượng bốc hơi bề mặt cao, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình bốc hơi từ mặt nước ngầm. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đo bốc hơi trực tiếp bằng Lysimeter (LS) theo nguyên lý cân bằng nước. Trạm đo LS được đặt tại xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre để quan trắc lượng nước ngầm mất đi do bốc hơi, ứng với điều kiện thực tế mực nước ngầm được mô phỏng ở độ sâu 0,5 và 0,9 m. Kết quả quan trắc và tính toán cho thấy, tổng lượng bốc hơi nước ngầm trong thời gian từ 1/6/2022 đến 31/5/2023 vào khoảng 142,5 mm, tương ứng 24,9% lượng bổ cập tự nhiên của thấu kính chứa nước này.
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình bốc hơi nước ngầm đến lượng bổ cập tự nhiên của tầng chứa nước Holocene trong các giồng cát tỉnh Bến Tre, Việt Nam
</description>
<dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</rdf:RDF>
