<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
<channel>
<title>Thủy, Hải sản</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/11</link>
<description/>
<pubDate>Thu, 07 May 2026 15:33:01 GMT</pubDate>
<dc:date>2026-05-07T15:33:01Z</dc:date>
<item>
<title>Đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá tầm Nga (acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại tỉnh Lâm Đồng</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5099</link>
<description>Đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá tầm Nga (acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại tỉnh Lâm Đồng
Nguyễn, Anh Tiến; Châu, Bích Liên; Đàm, Bá Long; Hoàng, Anh Quy; Lê, Văn Diệu; Trần, Văn Phước; Nguyễn, Viết Thùy
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại tỉnh Lâm Đồng. Tinh trùng được thu thập từ đàn cá đực thành thục sinh dục với khối lượng trung bình là (9,86±1,58 kg). Các đặc tính lý hóa sinh được xác định bằng các phương pháp phù hợp. Kết quả cho thấy: Tinh trùng cá tầm Nga có thể tích (63,33±25,74 ml), độ quánh (60,56±3,91%), mật độ (0,37×109 tinh trùng/ml), nồng độ thẩm thấu (69,65±5,06 mOsm/kg), Ion Na+ (34,42±2,10 mM), K+ (2,30±0,14 mM), Ca2+ (0,36±0,04 mM), Mg2+ (0,73±0,05 mM), Cl- (13,62±0,53 mM), Na+/Cl- (14,97±0,56), protein (0,69±0,07 mg/ml). Phần trăm hoạt lực, thời gian hoạt lực và vận tốc của tinh trùng cá tầm Nga lần lượt là (75,00±15,41%, 158,89±36,21 s và 92,80±3,71 μm/s). Kết quả này có thể giúp phát triển chất bảo quản và kích thích hoạt lực tinh trùng, góp phần vào bảo quản lạnh và thụ tinh nhân tạo cho cá tầm Nga
Đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá tầm Nga (acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại tỉnh Lâm Đồng
</description>
<pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5099</guid>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Xác định hàm lượng các nguyên tố kim loại trong mô thịt của một số loài cá phổ biến vùng cửa sông Bạch Đằng, Hải Phòng</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5075</link>
<description>Xác định hàm lượng các nguyên tố kim loại trong mô thịt của một số loài cá phổ biến vùng cửa sông Bạch Đằng, Hải Phòng
Phạm, Thị Kha; Vũ, Mạnh Hùng; Lê, Văn Nam; Cao, Thị Thu Trang; Trần, Mạnh Hà
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về hàm lượng các kim loại magie (Mg), sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), Mangan (Mn), Asen (As), Cadimi (Cd), thủy ngân (Hg) trong 3 loài cá phổ biến ở khu vực: cá trích bầu (Escualosa thoracata), lành canh đuôi phượng (Coilia mystus) và đối mục (Mugil cephalus) trong đợt thu mẫu năm 2020 tại vùng cửa sông Bạch Đằng - Hải Phòng. Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng các nguyên tố kim loại trong mẫu cá dao động như sau: Mg: 854,19-1718,01 mg/kg khô; Fe: 32,60-167,89 mg/kg khô; Zn: 26,33-108,47 mg/kg khô; Mn: 0,92 25,46 mg/kg khô; Cu: 1,63-9,33 mg/kg khô; As: 0,56-13,11 mg/kg khô; Hg: 0,00-0,40 mg/kg khô; Cd: 0,01-0,10 mg/kg khô. Hàm lượng các nguyên tố kim loại trong 3 loài cá khu vực nằm trong giới hạn theo QCVN 8-2:2011/BYT đồng thời cũng thuộc giới hạn của Ủy ban châu Âu 2006 và giới hạn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc/Tổ chức Y tế thế giới (FAO/WHO) (1989). Các mẫu nghiên cứu chỉ ra mối tương quan đáng kể giữa Fe-Cu, Zn-Cu, Hg-Cd. Cá lành canh đuôi phượng tích lũy nồng độ cao của Mn, Mg, Hg, Cd; cá trích bầu tích lũy nồng độ cao của Fe, Zn, Cu; cá đối mục tích tụ hàm lượng thấp kim loại As.
Xác định hàm lượng các nguyên tố kim loại trong mô thịt của một số loài cá phổ biến vùng cửa sông Bạch Đằng, Hải Phòng
</description>
<pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5075</guid>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Lựa chọn phương pháp khử trùng thích hợp trong nuôi cấy mô rong sụn Kappaphycus alvarezii</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5069</link>
<description>Lựa chọn phương pháp khử trùng thích hợp trong nuôi cấy mô rong sụn Kappaphycus alvarezii
Phạm, Thị Mát; Lê, Thanh Tùng; Nguyễn, Thị Duyệt; Nguyễn, Văn Nguyên
Nghiên cứu này nhằm lựa chọn phương pháp khử trùng thích hợp để tạo vật liệu sạch cho nuôi cấy mô rong sụn Kappaphycus alvarezii. Thí nghiệm được tiến hành với 3 loại chất gồm (1) dung dịch natri hypochlorite 0,25% trong thời gian 5 giây, (2) hỗn hợp kháng sinh hãng Sigma ở nồng độ 0,5%; 1% và 1,5% trong thời gian 48 giờ, (3) dung dịch nano bạc ở các nồng độ từ 100 đến 1.000ppm trong thời gian 5 phút. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp khử trùng mẫu cấy tốt nhất là sử dụng dung dịch natri hypochlorite 0,25% trong thời gian 5 giây cho hiệu quả cao nhất với tỷ lệ mẫu sạch 86,67%, tỷ lệ mô sẹo đạt 94,44% và chất lượng mô sẹo tốt. Việc khử trùng bằng hỗn hợp kháng sinh và nano bạc đều có xu hướng chung khi nồng độ càng tăng thì tỷ lệ mẫu sạch càng cao nhưng tỷ lệ mẫu sống và tỷ lệ tạo mô sẹo lại càng giảm. Hỗn hợp kháng sinh với nồng độ 1,5% cho tỷ lệ mô sẹo đạt thấp nhất (41,11%) và đạt cao nhất (54,44%) ở nồng độ 0,5%. Với dung dịch nano bạc, nồng độ 1.000ppm cho tỷ lệ mô sẹo thấp nhất (45,56%), trong khi đó, công thức 100ppm có tỷ lệ mô sẹo cao nhất, đạt 71,11% nhưng tỷ lệ mẫu sạch thấp nhất, chỉ đạt 12,22%.
Lựa chọn phương pháp khử trùng thích hợp trong nuôi cấy mô rong sụn Kappaphycus alvarezii
</description>
<pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5069</guid>
<dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Đánh giá hiệu quả sử dụng rong xanh (Chaetomorpha linum) lên men bổ sung vào thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) giống</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5059</link>
<description>Đánh giá hiệu quả sử dụng rong xanh (Chaetomorpha linum) lên men bổ sung vào thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) giống
Nguyễn, Thị Ngọc Anh; Trần, Nguyễn Hải Nam; Tiền, Hải Lý; Trần, Nguyễn Duy Khoa; Lê, Quốc Việt; Dương, Thị Mỹ Hận; Trần, Ngọc Hải
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung rong xanh (Chaetomorpha linum) lên men vào thức ăn thương mại trong ương giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Nghiệm thức đối chứng không bổ sung hỗn hợp rong lên men (0%) và 3 nghiệm thức còn lại bổ sung hỗn hợp rong xanh lên men vào thức ăn với các mức 0,4%, 0,8%, và 1,2%. Tôm giống khối lượng ban đầu là 0,11±0,01g được bố trí mật độ 1.000 con/m3 trong bể 250 L, thể tích nước nuôi là 150 L và độ mặn là 15‰. Sau 30 ngày ương nuôi, tỉ lệ sống của tôm ở các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05). Nghiệm thức bổ sung 0,4% rong xanh lên men đã giúp tôm cải thiện đáng kể về tốc độ tăng trưởng và hệ số tiêu tốn thức ăn so với tôm ở nghiệm thức đối chứng và hai nghiệm thức còn lại (p&lt;0,05). Ngoài ra, việc bổ sung bột rong xanh lên men vào thức ăn ở các tỉ lệ từ 0,4-1,2% giúp tôm có khả năng chịu sốc độ mặn mặn thấp (15‰ xuống 0,5‰) và độ mặn cao (từ 15‰ lên 50‰) tốt hơn so với nhóm đối chứng. Kết quả nghiên cứu có thể góp phần phát triển nghề nuôi tôm thích ứng với biến đổi khí hậu
Đánh giá hiệu quả sử dụng rong xanh (Chaetomorpha linum) lên men bổ sung vào thức ăn  cho tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) giống
</description>
<pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5059</guid>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</channel>
</rss>
