Chuyên mục

Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 226
Tổng truy cập : 57,998

Giới thiệu

Tên cơ quan

: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Hải Phòng
Địa chỉ : Số 1 Phạm Ngũ Lão, Ngô Quyền, Hải Phòng
Điện thoại : 0225.3757100
Fax :

0225.3920838

 

I. THÔNG TIN CHUNG

1. Tên cơ quan:

- Tên tiếng Việt: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng.

- Tên giao dịch tiếng Anh: Haiphong Science and Technology Information Center (HPSTIC)

2. Địa chỉ: Số 01 Phạm Ngũ Lão, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

3. Điện thoại: 0225.3757100

4. Fax: 0225.3920838

II. BỘ MÁY TỔ CHỨC

 

 

II. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ

Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng (trước là Trung tâm thông tin – tư liệu khoa học, công nghệ và môi trường Hải Phòng) được thành lập theo quyết định số 1900/QĐ-TCCQ ngày 24/10/1997 của UBND thành phố Hải Phòng. Đến nay, mọi hoạt động của Trung tâm căn cứ theo Quyết định số 1764/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Hải Phòng ban hành ngày 12 tháng 9 năm 2013 của UBND thành phố Hải Phòng.

VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG

Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng (gọi tắt là Trung tâm) là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Sở Khoa học và Công nghệ, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia; hoạt động theo Khoản 3, Điều 4, Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005  của Chính phủ.

Trung tâm có chức năng thông tin  tuyên truyền, thông tin  tư liệu, thống kê khoa học và công nghệ, chuyên trách công nghệ thông tin của Sở và ngành Khoa học và Công nghệ.

NHIỆM VỤ

1. Về thông tin tuyên truyền:

a) Tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ;

b) Tổ chức các hoạt động  thông tin tuyên truyền, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ, góp phần đưa tri thức khoa học và công nghệ vào phục vụ sản xuất, đời sống và nâng cao dân trí;

c) Tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền về kết quả và hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố;

d) Biên soạn, xuất bản và phát hành các ấn phẩm thông tin khoa học và công nghệ;

đ) Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin tuyên truyền, phổ biến khoa học và công nghệ phục vụ nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội theo yêu cầu;

e) Tổ chức hoặc tham gia tổ chức các hội nghị, hội thảo, toạ đàm, hội chợ, triển lãm khoa học và công nghệ và các sự kiện khoa học và công nghệ khác;

g) Tổ chức và thực hiện các dịch vụ đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thông tin tuyên truyền, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ;

h) Quản lý, vận hành, cập nhật, duy trì hoạt động của cổng thông tin điện tử khoa học và công nghệ, cổng thông tin điện tử thành phần của Sở trong hệ thống cổng thông tin điện tử của thành phố.

2. Về thông tin tư liệu:

a) Tổ chức xây dựng, phát triển, cập nhật, quản lý và lưu giữ hệ thống thông tin -  tư liệu  khoa học và công nghệ, hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ của thành phố;

b) Tổ chức thực hiện tra cứu, xử lý, phân tích, tổng hợp và cung cấp thông tin - tư liệu khoa học và công nghệ phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý. Tổ chức khai thác, sử dụng hệ thống thông tin - tư liệu, cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ;

c) Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin - tư liệu khoa học và công nghệ phục vụ nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội theo yêu cầu;

d) Tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thông tin - tư liệu.

đ) Tổ chức, xây dựng mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố.

3. Về thống kê khoa học và công nghệ:

a) Tổ chức thu thập, tổng hợp, dự báo, phân tích thông tin thống kê khoa học và công nghệ theo yêu cầu và kế hoạch của Bộ Khoa học và Công nghệ và Ủy ban nhân dân thành phố;

b) Tham gia và tổ chức thực hiện các cuộc điều tra, thống kê khoa học và công nghệ theo kế hoạch được phê duyệt;

c) Tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê khoa học và công nghệ; cung cấp thông tin, số liệu, dữ liệu thống kê khoa học và công nghệ phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý của thành phố;

d) Hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ về thống kê khoa học và công nghệ. Tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thống kê khoa học và công nghệ.

4. Về chuyên trách công nghệ thông tin:

a) Xây dựng kế hoạch, đề án, dự án ứng dụng công nghệ thông tin của Sở, ngành trình phê duyệt và tổ chức thực hiện;

b) Quản lý, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động của Sở;

c) Bảo đảm kỹ thuật và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giải quyết, khắc phục sự cố máy tính và các sự cố liên quan đến an toàn, an ninh thông tin trên mạng máy tính của Sở;

d) Bảo đảm kỹ thuật, duy trì hoạt động của hệ thống cơ sở dữ liệu, cổng thông tin điện tử và các hệ thống công nghệ thông tin khác của Sở và ngành;

đ) Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ và kỹ năng về công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ của Sở, ngành. Tổ chức và thực hiện việc nghiên cứu, ứng dụng, dịch vụ, tư vấn, đào tạo về công nghệ thông tin đối với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.

5. Các nhiệm vụ khác:

a) Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng và tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật;

b) Thực hiện chế độ báo cáo về hoạt động của Trung tâm với Giám đốc Sở và Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia;

c) Các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở giao.

III. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

1. Các tổ chức tiền thân và sự ra đời của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng

Năm 1959, bốn năm sau ngày Hải Phòng giải phóng, Ủy ban hành chính thành phố thành lập Hội phổ biến khoa học kỹ thuật (KHKT) do Luật sư Vũ Trọng Khánh, một nhân sĩ tiêu biểu của Hải Phòng làm Chủ tịch. Hoạt động tích cực của Hội đã góp phần không nhỏ vào việc tuyên truyền, phổ biến tri thức, nâng cao dân trí để phục vụ cho sự phát triển sản xuất của thành phố.

Năm 1969, thành lập Thư viện KHKT thành phố, đặt dưới sự quản lý của Ban KHKT. Năm 1972, Thành phố quyết định “giải thể các cấp Hội phổ biến KHKT trong thành phố và giao nhiệm vụ thông tin KHKT cho Ban KHKT và các ngành, các cấp đảm nhiệm”. Phòng Thông tin KHKT thuộc Ban KHKT thành phố được thành lập.

Năm 1986, trước yêu cầu đổi mới, để phục vụ sự nghiệp phát triển KHKT và kinh tế - xã hội của thành phố, Trung tâm Thông tin tư liệu và Tuyên truyền KHKT gọi tắt là Trung tâm Thông tin Tư liệu KHKT Hải Phòng ra đời với tư cách là một đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Ban KHKT thành phố trên cơ sở sáp nhập Phòng Thông tin KHKT và Thư viện KHKT.

Năm 1989, Ban KHKT Hải Phòng hợp tác với Xí nghiệp Điện tử Hải Phòng thành lập Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến và dịch vụ Điện tử - Tin học (gọi tắt là Trung tâm Điện tử - Tin học) để triển khai công việc còn hết sức mới mẻ khi đó gồm: ứng dụng máy vi tính và ứng dụng tin học trong thành phố.

Tháng 11/1993, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCN&MT) Hải Phòng được thành lập trên cơ sở Ban KHKT thành phố, trong cơ cấu tổ chức có Phòng Thông tin - Tư liệu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin Tư liệu KHKT bị giải thể.

Năm 1997, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 và Nghị quyết 4 Thành ủy Hải Phòng về phát triển KH&CN (KH&CN) thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động thông tin KH&CN, tiến tới đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về thông tin KH&CN của tiến trình CNH, HĐH thành phố, UBND thành phố ban hành Quyết định số 1900/QĐ-TCCQ thành lập Trung tâm thông tin - tư liệu khoa học - công nghệ và môi trường (KHCN&MT) Hải Phòng (sau đây gọi tắt là Trung tâm) trên cơ sở giải thể và sáp nhập lại Phòng Thông tin - Tư liệu và Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến và dịch vụ Điện tử - Tin học (gọi tắt là Trung tâm Điện tử - Tin học). Đây là cột mốc chính thức đánh dấu sự ra đời và phát triển của Trung tâm từ đó cho đến nay.

 

Quyết định thành lập Trung tâm thông tin - tư liệu khoa học - công nghệ và môi trường Hải Phòng

2. Quá trình phát triển của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng

Có thể chia quá trình phát triển của Trung tâm thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1997 - 2003: Mở đầu bằng việc thành lập Trung tâm thông tin - tư liệu KHCN&MT (Quyết định số 1900/QĐ-TCCQ ngày 24/10/1997 của UBND thành phố Hải Phòng) và kết thúc bằng sự kiện Trung tâm thông tin - tư liệu KHCN&MT được đổi tên thành Trung tâm Thông tin KH&CN theo Quyết định số 2877/QĐ-UB ngày 10/11/2003 của UBND thành phố.

Giai đoạn này, bên cạnh các nhiệm vụ thông tin KH&CN; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), Trung tâm đảm nhận và thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền về môi trường và bảo vệ môi trường, một lĩnh vực còn hết sức mới mẻ thời kỳ đó.

- Giai đoạn 2003 - 2013: Triển khai hoạt động thông tin KH&CN theo Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004, hoạt động thống kê KH&CN theo Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ; các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng CNTT; tư vấn, môi giới công nghệ và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, thiết bị và thành lập Sàn giao dịch công nghệ và thiết bị.

Giai đoạn này kết thúc bằng sự kiện phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin KH&CN Hải Phòng (Quyết định số 1764/QĐ-UBND ngày 12/9/2013 của UBND thành phố) theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

- Giai đoạn 2013 đến nay: Trung tâm Thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Khoản 3, Điều 4, Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập, với chức năng thông tin tuyên truyền, thông tin tư liệu, thống kê KH&CN, chuyên trách CNTT của Sở và ngành KH&CN.

Hoạt động trọng tâm của Trung tâm giai đoạn này là triển khai thực hiện Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ về thống kê KH&CN; Nghị quyết của Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

IV. KHEN THƯỞNG

Các hình thức khen thưởng từ năm 2007 đến năm 2017

- Năm 2007: Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố số 11 BK ngày 18 tháng 01 năm 2008;

- Năm 2008:

+ Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố số 72 BK ngày 19 tháng 02 năm 2009;

+ Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ - Quyết định số 576/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2008;

- Năm 2009:

+ Bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ - Quyết định số 975/QĐ-BKHCN ngày 12 tháng 6 năm 2010;

- Năm 2010: Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố số 150 BK ngày 06 tháng 5 năm 2010;

- Năm 2012: Huân chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước số 1391/QĐ-CTN ngày 11/9/2012;

- Năm 2014: 

+ Bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ - Quyết định số 2553/QĐ-BKHCN ngày 15/12/2014;

- Năm 2017:

+ Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố số 2222/QĐ-CT ngày 25/8/2017;

+ Bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ số 2379/QĐ- BKHCN ngày 31/8/2017;