Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 6091
Tổng truy cập : 57,998

Khoa học - Y dược

Áp dụng kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi dưới nước để điều trị polyp đại trực tràng (04/02/2026)

Ung thư đại trực tràng chủ yếu do sự tiến triển ác tính của polyp tuyến, là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến và gây tử vong hàng đầu thế giới. Nếu được phát hiện sớm, tổn thương tiền ung thư có thể loại bỏ bằng phương pháp nội soi. Trong nhiều năm qua, kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi (EMR) đã được áp dụng nhưng có hạn chế về khả năng cắt bỏ triệt để và có nguy cơ gây biến chứng.

 

Kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi dưới nước (Underwater Endoscopic Mucosal Resection, UEMR) hay cắt niêm mạc trong môi trường nước, đã được các nhà khoa học Mỹ phát triển và công bố lần đầu vào năm 2012. Khác với phương pháp cắt niêm mạc truyền thống sử dụng khí hoặc COđể làm căng lòng rut, trong k thut UEMR, bác sĩ bơm nước vào lòng đại tràng, khiến đầu polyp ni lên trên mt nước, giúp quan sát rõ cung polyp và d thao tác ct b hơn. Nhđó, bác sĩ có th ct polyp mà không cn tiêm dung dch dưới niêm mạc, đồng thời giảm nguy cơ thủng, chảy máu và rút ngắn thời gian thủ thuật.

Tại Việt Nam, kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi dưới nước (UEMR) mới được triển khai ở một số cơ sở y khoa lớn, trong đó có Bệnh viện Nhân dân 115. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành trên 30 bệnh nhân với 39 polyp không cuống hoặc dạng phẳng, kích thước 10–25 mm. Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 52,6 tuổi, trong đó nam giới chiếm hai phần ba, với polyp chủ yếu ở trực tràng và đại tràng sigma (đoạn cuối của đại tràng).

Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% ca can thiệp thành công, tỷ lệ cắt nguyên khối đạt 87,2%, tỷ lệ cắt sạch rìa mô học 84,6%, không ghi nhận trường hợp thủng ruột. Biến chứng duy nhất là chảy máu tức thì ở 6,7% trường hợp, đều được kiểm soát an toàn bằng clip nội soi, không cần truyền máu hay phẫu thuật. So sánh với dữ liệu quốc tế, tỷ lệ này tương đương hoặc cao hơn, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của kỹ thuật trong điều kiện thực hành lâm sàng trong nước. Người bệnh được theo dõi chặt chẽ sau cắt, tái khám sau hai tuần và nội soi kiểm tra sau 3-6 tháng, không ghi nhận biến chứng muộn hay tái phát tại chỗ.

Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để Bệnh viện Nhân dân 115 đưa kỹ thuật UEMR vào thực hiện thường xuyên, đồng thời mở rộng công tác đào tạo và chuyển giao cho các cơ sở y tế khác./.

N.P.D (tổng hợp)

Ngày cập nhật: 25/01/2026

https://www.vista.gov.vn/vi/news/khoa-hoc-y-duoc/ap-dung-ky-thuat-cat-niem-mac-noi-soi-duoi-nuoc-de-dieu-tri-polyp-dai-truc-trang-12683.html