Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 106
Tổng truy cập : 57,998

Thảo luận

Phát triển nguồn nhân lực cho ngành bán dẫn Việt Nam (18/09/2026)

Công nghiệp bán dẫn đang mở ra cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Tuy nhiên, lợi thế trong các khâu như thiết kế, đóng gói, kiểm thử, nghiên cứu và phát triển chỉ có thể được phát huy khi đi cùng chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu và khả năng làm chủ công nghệ.

 

Khoảng cách giữa nhu cầu và năng lực đào tạo

Nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ khoa học, công nghệ của mỗi quốc gia. Với ngành bán dẫn, vai trò này càng nổi bật bởi đây là công nghệ nền tảng cho trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật, tự động hóa, điện tử y sinh, quốc phòng và nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác.

Việt Nam cần ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên vào năm 2030 để từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu. Trong khi đó, nguồn nhân lực hiện mới đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thực tế.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng, cho rằng nguồn nhân lực không chỉ thiếu về số lượng mà còn hạn chế về chất lượng, nhất là đội ngũ có khả năng tham gia đầy đủ các khâu từ thiết kế, chế tạo đến kiểm thử. Trong khi nhu cầu doanh nghiệp tăng nhanh, số sinh viên được đào tạo chuyên sâu còn ít và khoảng cách giữa chương trình đào tạo với thực tiễn sản xuất vẫn khá lớn.

Một trong những nguyên nhân chính là thiếu giảng viên có kinh nghiệm thực tế, đồng thời cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của một ngành công nghệ có tốc độ đổi mới rất nhanh.

Thiếu chuyên gia và giảng viên trình độ cao

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thách thức đáng chú ý hiện nay không phải thiếu người học mà là thiếu đội ngũ giảng viên có trình độ quốc tế để dẫn dắt đào tạo và nghiên cứu.

Bán dẫn là lĩnh vực đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về thiết kế vi mạch, công nghệ chế tạo, vật liệu mới và phải thường xuyên cập nhật những tiến bộ khoa học trên thế giới. Trong khi đó, khả năng thu hút và giữ chân chuyên gia giỏi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Thu nhập của giáo sư và nhà khoa học trong khu vực công lập ở Việt Nam hiện thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia có ngành công nghệ phát triển. Khoảng cách này tạo ra khó khăn trong việc thu hút nhân tài đầu ngành, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế về làm việc lâu dài.

Một hạn chế khác là đào tạo bán dẫn vẫn còn nặng về lý thuyết. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết ngành bán dẫn có ba khâu quan trọng gồm thiết kế chip, chế tạo chip, đóng gói và kiểm tra. Ở khâu thiết kế, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu công nghiệp đã được thu hẹp đáng kể. Tuy nhiên, ở khâu chế tạo, đóng gói và kiểm thử, hoạt động đào tạo vẫn thiếu sự gắn kết với doanh nghiệp và môi trường sản xuất thực tế.

Đổi mới chương trình theo nhu cầu thị trường

Dự báo trong 5 năm tới, Việt Nam cần từ 20.000 đến 50.000 kỹ sư vi mạch và bán dẫn. Điều này đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải thay đổi mạnh mẽ, chuyển từ mô hình đào tạo khép kín sang cách tiếp cận linh hoạt và gắn với nhu cầu thị trường.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đăng, Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, cho rằng mỗi cơ sở đào tạo cần xác định lĩnh vực ưu tiên dựa trên thế mạnh sẵn có, thay vì cùng phát triển một mô hình giống nhau.

Các trường đại học cần tăng cường hợp tác thực chất với doanh nghiệp công nghệ theo hướng cùng xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập tại nhà máy và xác định chuẩn đầu ra theo nhu cầu tuyển dụng. Giáo trình cần từng bước chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tăng khả năng hội nhập cho sinh viên.

Sinh viên và giảng viên cũng cần có cơ hội trực tiếp tham gia giải quyết các bài toán công nghệ từ doanh nghiệp. Đây là cách giúp quá trình đào tạo gắn chặt hơn với thực tiễn và rút ngắn thời gian thích nghi khi sinh viên ra trường.

Tại Thái Nguyên, chương trình đào tạo đang được định hướng gắn với nhu cầu nhân lực của các tổ hợp công nghiệp lớn, trong đó có dự án sản xuất của Sunny Opotech và hệ sinh thái của Samsung tại Việt Nam. Sự kết nối này giúp nội dung đào tạo được cập nhật theo yêu cầu sản xuất và tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận sớm với dây chuyền công nghệ cao.

Tăng hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Mỹ Hà, Trưởng Khoa Điện-Điện tử, Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết nhà trường đang đào tạo nhiều công đoạn trong chuỗi giá trị bán dẫn, từ thiết kế vi mạch đến kiểm thử và đóng gói chip.

Trường cũng xây dựng mạng lưới hợp tác với hơn 1.600 doanh nghiệp thông qua các hoạt động chuyên đề, kiến tập, thực tập, nghiên cứu, tài trợ thiết bị, phần mềm và tổ chức các cuộc thi học thuật. Mô hình này giúp sinh viên tiếp cận sớm với môi trường sản xuất thực tế và hiểu rõ hơn yêu cầu của doanh nghiệp.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quỳnh, Trưởng khoa Khoa học Vật liệu tiên tiến và Công nghệ Nano, Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, đại học hiện không chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo mà còn cần trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.

Để đạt được mục tiêu này, cần thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Trong đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào xây dựng chương trình, hỗ trợ nghiên cứu, cung cấp môi trường thực hành và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

Cần cơ chế đặt hàng đào tạo rõ ràng

Bên cạnh nỗ lực của các trường, vai trò của Nhà nước vẫn rất quan trọng. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Như Khoa, Hiệu trưởng Trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Đại học Thái Nguyên, cho rằng cần triển khai cơ chế đặt hàng đào tạo gắn với yêu cầu cụ thể về chất lượng đầu ra.

Cơ chế này cần xác định rõ đơn vị đào tạo, nhu cầu nhân lực, kết quả cần đạt, trách nhiệm của các bên và sản phẩm đào tạo. Qua đó, nguồn lực đầu tư có thể tập trung vào những lĩnh vực thực sự cần thiết và hạn chế tình trạng đào tạo không sát nhu cầu sử dụng.

Phát triển ngành bán dẫn không chỉ phụ thuộc vào số lượng kỹ sư được đào tạo mà còn ở chất lượng chuyên môn, khả năng thực hành, nghiên cứu và thích ứng với công nghệ mới. Vì vậy, đào tạo nhân lực cần được đặt trong một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam từng bước nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu./.

P.T (tổng hợp)

 Ngày cập nhật: 8/9/2026

https://www.vista.gov.vn/vi/news/chien-luoc-chinh-sach-kh-cn-dmst/phat-trien-nguon-nhan-luc-cho-nganh-ban-dan-viet-nam-13339.html