Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 1151 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Khoa học nông nghiệp
Đánh giá chất lượng tinh trùng trứng và ấu trùng cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) thông qua việc cải thiện dinh dưỡng cá bố mẹ trong điều kiện biến đổi khí hậu (07/04/2026)
Khánh Hòa đang tập trung phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi hải sản, như một lĩnh vực kinh tế mũi nhọn. Trong bối cảnh đó, việc sản xuất giống nhân tạo cá chẽm mõm nhọn trở nên cấp thiết, bởi đây là đối tượng hải sản có giá trị kinh tế cao (230.000 - 260.000 đ/kg) và thị trường tiêu thụ rộng lớn cả trong và ngoài nước. Hiện tại, nhu cầu con giống cá chẽm mõm nhọn rất lớn nhưng nguồn cung chủ yếu phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, không ổn định và con giống tự nhiên thường có tỷ lệ hao hụt cao khi đưa vào nuôi thương phẩm.Việc chủ động sản xuất con giống nhân tạo tại chỗ với chất lượng cao sẽ thúc đẩy nghề nuôi cá biển ở Khánh Hòa và Việt Nam nói chung, đa dạng hóa đối tượng nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Chất lượng tinh trùng, trứng và ấu trùng là yếu tố then chốt quyết định chất lượng con giống nhân tạo. Mặc dù nhiều yếu tố như thời điểm thu mẫu, nhiệt độ, hormone, bảo quản lạnh và biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản, trong khuôn khổ đề tài này, nhóm nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin E và C vào thức ăn cá bố mẹ đến chất lượng tinh trùng, trứng và ấu trùng cá chẽm mõm nhọn trong điều kiện môi trường thay đổi như biến đổi khí hậu.

Kế thừa các nghiên cứu trước đây được tài trợ bởi Quỹ NAFOSTED (2011, 2014) về đặc tính lý hóa sinh và đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn, Trường Đại học Nha Trang đã trang bị các thiết bị, máy móc hiện đại. Dựa trên nền tảng này, nhà trường mong muốn phát triển nghiên cứu sâu hơn về chất lượng tinh trùng, trứng và ấu trùng thông qua dinh dưỡng cá bố mẹ, đồng thời ứng dụng sinh học phân tử để có kết quả chính xác hơn. Với kinh nghiệm nghiên cứu về sinh sản của nhiều loài cá biển và tham khảo các kết quả quốc tế, nhóm hy vọng sẽ thành công, góp phần cung cấp nguồn con giống chất lượng cao, phục vụ ngành nuôi trồng thủy sản không chỉ ở Khánh Hòa mà còn trên toàn quốc
Vì những lí do trên, PGS. TS. Lê Minh Hoàng và các cộng sự tại Trường Đại học Nha Trang đã thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng tinh trùng trứng và ấu trùng cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) thông qua việc cải thiện dinh dưỡng cá bố mẹ trong điều kiện biến đổi khí hậu” nhằm đánh giá được chất lượng tinh trùng, trứng và ấu trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis thông qua việc cải thiện dinh dưỡng cá bố mẹ trong điều kiện biến khí hậu.
Sau một thời gian triển khai thực hiện, đề tài đưa ra một số các kết luận như sau:
1. Đánh giá chất lượng tinh trùng, trứng và ấu trùng cá chẽm mõm nhọn thông qua việc bổ sung vitamin E vào thức ăn cá bố mẹ trong điều kiện biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu về việc bổ sung vitamin E và C vào thức ăn của cá chẽm mõm nhọn đã mang lại những kết quả đáng chú ý về chất lượng tinh trùng và trứng.
Cụ thể, khi bổ sung vitamin E với nồng độ 500 IU/kg vào thức ăn, chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn được cải thiện rõ rệt về đặc tính lý học. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bổ sung vitamin E và C có ảnh hưởng không đáng kể đến đặc tính hóa sinh của dịch tương cá chẽm mõm nhọn. Đáng chú ý, thức ăn có sự kết hợp của cả vitamin E và vitamin C đã mang lại hiệu quả tốt hơn đáng kể đối với hoạt lực tinh trùng so với các nghiệm thức chỉ bổ sung một loại vitamin.
Tương tự, đối với chất lượng trứng, nghiệm thức bổ sung kết hợp vitamin E và vitamin C vào thức ăn nuôi vỗ cá chẽm mõm nhọn bố mẹ cũng cho hiệu quả vượt trội về các chỉ tiêu chất lượng trứng so với các nghiệm thức khác.
Những kết quả này gợi mở hướng đi quan trọng trong việc tối ưu hóa dinh dưỡng cho cá bố mẹ nhằm nâng cao chất lượng con giống.
2. Ảnh hưởng của Vitamin C đến khả năng chịu đựng biến động nhiệt độ của cá chẽm mõm nhọn giai đoạn giống
Nghiên cứu về ảnh hưởng của vitamin C đến khả năng chịu đựng biến động nhiệt độ của cá chẽm mõm nhọn giai đoạn giống cho thấy những kết quả quan trọng.
Nhìn chung, bổ sung vitamin C ở nồng độ 400 mg/kg thức ăn và nuôi ở nhiệt độ 28°C mang lại hiệu quả tốt nhất về tăng trưởng, tỷ lệ sống tối đa và tình trạng sức khỏe tổng thể của cá. Các thông số quan sát ở cá đều cho thấy giá trị tốt hơn khi nồng độ vitamin C được tăng lên.
Mặc dù không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống giữa các nhóm thử nghiệm ở cả hai mức nhiệt độ, nhưng các nhóm cá nuôi ở 28°C có tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn tốt hơn so với các nhóm ở 32°C. Hiệu quả luôn thể hiện rõ nhất ở nghiệm thức bổ sung 400 mg/kg vitamin C tại 28°C, với kết quả giảm dần ở các nồng độ 100 mg/kg và 0 mg/kg. Cá nuôi ở 32°C cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn kém, tăng trưởng chậm và tỷ lệ sống thấp hơn.
Về các chỉ tiêu sinh hóa, so với nhóm cá nuôi ở 32°C, các chỉ số như HIS, VSI và các thành phần sinh hóa cơ thể (độ ẩm, lipid, protein, tro) đều cao hơn ở nhóm cá nuôi ở 28°C. Việc bổ sung vitamin C làm thay đổi đáng kể các chỉ số huyết học và sinh hóa cơ thể cá. Đặc biệt, hàm lượng vitamin C tích lũy trong cơ thịt và gan cá tăng đáng kể khi sử dụng 400 mg/kg vitamin C so với mức 100 mg/kg hoặc không bổ sung.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng khẳng định vai trò quan trọng của vitamin C đối với hệ thống miễn dịch của cá chẽm mõm nhọn. Sau thí nghiệm cảm nhiễm vi khuẩn Streptococcus, nhóm cá được bổ sung 400 mg/kg vitamin C cho thấy chỉ số lysozyme tăng đáng kể. Điều này chứng tỏ vitamin C có vai trò quan trọng trong việc giảm tác động tiêu cực của nhiệt độ lên tỷ lệ sống, sinh trưởng, phát triển, các chỉ tiêu sinh hóa và tăng cường hệ thống miễn dịch của cá chẽm mõm nhọn giai đoạn giống.
3. Ảnh hưởng của nhiệt độ, đồng sunfat và chế độ cho ăn lên cá chẽm mõm nhọn giai đoạn giống
Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ làm tăng đáng kể tác động tiêu cực của đồng sunfat lên cá chẽm mõm nhọn giai đoạn giống. Sự kết hợp giữa nhiệt độ cao, đồng sunfat và chế độ cho ăn gây ảnh hưởng cộng gộp, làm giảm đáng kể tỷ lệ sống, tỷ lệ bắt mồi, tốc độ tăng trưởng và khả năng hô hấp của cá.
Tuy nhiên, cá chẽm mõm nhọn giai đoạn giống cho thấy khả năng phục hồi tốt nếu nồng độ đồng sunfat không vượt quá 100 µg/L. Khả năng phục hồi này kém hơn nếu cá tiếp xúc với nồng độ cao hơn 100 µg/L sau 72 giờ. Đặc biệt, những con cá được nuôi với chế độ cho ăn no (100%) có khả năng phục hồi tốt hơn sau khi tiếp xúc với đồng sunfat ở nhiệt độ cao.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21534/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê./.
P.T.T (NASTIS)
Ngày cập nhật:25/03/2026
https://www.vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/danh-gia-chat-luong-tinh-trung-trung-va-au-trung-ca-chem-mom-nhon-psammoperca-waigiensis-thong-qua-viec-cai-thien-dinh-duong-ca-bo-me-trong-dieu-kien-bien-doi-khi-hau-12848.html
- Bảo tồn phát triển vốn tự nhiên phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở hạ lưu... (02/04/2026)
- Phát triển nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh Hà Giang và Yên Bái (24/03/2026)
- Sản xuất thử nghiệm gà Liên Minh tại Hải Phòng và một số tỉnh lân cận (17/03/2026)
- Nghiên cứu xác định vùng trồng và các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà và... (10/03/2026)
- Khai thác và phát triển nguồn gen vịt Sín Chéng (03/03/2026)
