Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 12584
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu đánh giá khả năng thực hiện giảm phát thải khí nhà kính cho các đô thị việt nam: đề xuất giải pháp quản lý hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (06/04/2026)

Biến đổi khí hậu là thách thức nghiêm trọng mang tính toàn cầu, và Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia đang phát triển chịu tác động nặng nề nhất từ các hiện tượng thời tiết cực đoan, nước biển dâng và những xáo trộn sinh thái ngày càng gia tăng. Trước thực tế đó, tại Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26), Việt Nam đã đưa ra những cam kết lịch sử: cùng gần 150 quốc gia cam kết đưa mức phát thải ròng về bằng 0 vào giữa thế kỷ; tham gia Cam kết giảm phát thải mê-tan toàn cầu vào năm 2030; ký Tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất; và gia nhập Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch. Đây là những cam kết mang tính tất yếu, không thể đảo ngược, đòi hỏi sự chuyển đổi toàn diện trong cách thức tổ chức, phát triển và vận hành các đô thị trên cả nước.

Hệ thống đô thị Việt Nam đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội quốc gia, đồng thời cũng là nguồn phát thải khí nhà kính lớn và tập trung. Ngành Xây dựng được giao nhiệm vụ cụ thể trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 2022) với mục tiêu giảm tối thiểu 74,3 triệu tấn CO tương đương vào năm 2030, tập trung vào các biện pháp như sử dụng vật liệu xanh, nâng cao hiệu suất năng lượng công trình, ứng dụng công nghệ số và phát triển hạ tầng xanh đô thị. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 đều xác định mục tiêu trung hòa các-bon là ưu tiên cao nhất trong các quyết sách phát triển.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn chưa có một hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về phát thải khí nhà kính tại các đô thị, chưa có đánh giá đầy đủ về năng lực triển khai thực tế của từng địa phương - bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài chính, giải pháp công nghệ và khung chính sách. Khoảng trống nghiên cứu này khiến việc hoạch định chính sách và lựa chọn giải pháp ưu tiên còn thiếu cơ sở khoa học vững chắc. Xuất phát từ đó, Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng - Bộ Xây dựng đã chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Bộ "Nghiên cứu đánh giá khả năng thực hiện giảm phát thải khí nhà kính cho các đô thị Việt Nam (nguồn nhân lực, tài chính, giải pháp công nghệ, chính sách của địa phương). Đề xuất các giải pháp quản lý và tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ ứng phó BĐKH của các địa phương hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050", do ThS. Chu Thị Yến - Phó Viện trưởng Viện Hợp tác quốc tế làm chủ nhiệm.

Sơ đồ các bước tiếp cận từ dưới lên.

Nghiên cứu đánh giá thực trạng nguồn lực, công nghệ và việc thực thi quy định về ứng phó biến đổi khí hậu tại các đô thị dựa trên kết qu khảo sát 500 cán bộ thuộc ngành xây dựng và quản lý đô thị tại 10 địa phương đại diện gồm: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Quảng Nam và Đắk Lắk - bao phủ từ đô thị đặc biệt đến đô thị loại 1 và loại 2. Kết quả cho thấy bức tranh phân hóa rõ rệt. Các đô thị lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có đội ngũ cán bộ đông đảo, trình độ cao (99% đại học trở lên, gần 50% sau đại học), nhận thức về biến đổi khí hậu và pháp luật khí hậu ở mức tốt. Tuy nhiên, lực lượng chuyên gia kỹ thuật sâu trong các lĩnh vực công trình xanh, thiết kế thích ứng, vật liệu phát thải thấp, kiểm kê khí nhà kính vẫn thiếu nghiêm trọng. Đô thị loại 2 như Tam Kỳ, Tân An, Lạng Sơn gần như không có chuyên gia công trình xanh; năng lực sử dụng công cụ kỹ thuật (GIS dưới 10%, mô phỏng ngập dưới 5%, kiểm kê khí nhà kính bằng 0) rất thấp.

Về tài chính khí hậu, hầu hết địa phương chưa có cơ chế phân loại và gắn nhãn ngân sách khí hậu. Chi tiêu ứng phó biến đổi khí hậu chủ yếu lồng ghép vào đầu tư công mà không được theo dõi riêng. Khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế (ODA, GCF) rất hạn chế: đô thị đặc biệt chỉ đạt 37% (WB) và 22% (ADB), đô thị loại 1 khoảng 20%, đô thị loại 2 chỉ từ 8 đến 9%. Về công nghệ, chỉ 15 đến 20% cán bộ được đánh giá thực sự thành thạo các công cụ kỹ thuật khí hậu, và đây là con số của những đô thị lớn; ở đô thị loại 2, con số này gần bằng 0. Về thực thi chính sách, hầu hết địa phương mới dừng ở mức lồng ghép nguyên tắc chung vào quy hoạch mà chưa triển khai các quy định kỹ thuật như kiểm kê khí nhà kính hay đánh giá rủi ro khí hậu theo tiêu chuẩn quốc tế.

Đề tài đã tổng hợp kinh nghiệm từ cả các nước phát triển và đang phát triển. Ở các nước phát triển như Mỹ, EU và Nhật Bản, các trụ cột chính sách giảm phát thải gồm: định giá các-bon, trợ cấp công nghệ xanh, tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc, đầu tư R&D năng lượng sạch và phát triển thị trường các-bon. Trung Quốc triển khai Chương trình "Đô thị các-bon thấp" (LCCP) quy mô lớn, thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng ICT trong quản lý phát thải đô thị. Các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Thái Lan cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung là cần lồng ghép khí hậu vào quy hoạch đô thị, thúc đẩy năng lượng tái tạo và xây dựng năng lực kỹ thuật địa phương. Từ các bài học quốc tế, đề tài rút ra những khuyến nghị trực tiếp cho Việt Nam về phát triển thị trường các-bon, tăng cường số hóa và sự tham gia của cộng đồng trong giảm phát thải.

Nghiên cứu tiến hành phân tích chi phí - lợi ích các giải pháp giảm phát thải và lựa chọn giải pháp ưu tiên với việc áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) cho các nhóm giải pháp chủ chốt trong ba lĩnh vực phát thải lớn nhất tại đô thị Việt Nam. Với lĩnh vực năng lượng và giao thông, các giải pháp như chiếu sáng LED, công trình xanh, xe máy điện, xe buýt điện và điện mặt trời mái nhà đều cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt – nhiều giải pháp có chi phí giảm phát thải âm (lợi ích lớn hơn chi phí đầu tư). Hệ thống Metro hoặc BRT có chi phí cao nhưng mang ý nghĩa chiến lược dài hạn. Với lĩnh vực quản lý chất thải, các biện pháp tái chế, compost và sản xuất nhiên liệu từ rác thải (RDF) đều mang lại chi phí giảm phát thải âm và tiềm năng lớn. Với lĩnh vực vật liệu xây dựng và công nghiệp (IPPU), các giải pháp dùng phụ gia thay thế clinker, tận dụng tro bay và xỉ thép cho thấy tiềm năng giảm phát thải rất lớn với chi phí thấp hoặc âm.

Trên cơ sở đó, đề tài phân nhóm giải pháp ưu tiên theo ba mức: mức 1- gồm các giải pháp chi phí thấp/âm và khả thi cao cần triển khai ngay; mức 2- gồm các giải pháp chuyển đổi chiến lược với chi phí trung bình và hiệu suất giảm phát thải cao; mức 3- gồm các giải pháp hạ tầng xã hội quy mô lớn cần đầu tư dài hạn nhưng mang lại lợi ích khí hậu và xã hội rất cao. 07 nhóm giải pháp quản lý toàn diện cho các địa phương: hoàn thiện thể chế và tích hợp khí hậu vào quy hoạch; đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập quỹ khí hậu địa phương; xây dựng năng lực nhân lực chuyên sâu gắn với khung năng lực chuẩn; hoàn thiện tổ chức bộ máy với đầu mối BĐKH chuyên trách và cơ chế phối hợp liên ngành; xây dựng hệ thống dữ liệu và giám sát phát thải (MRV) chuẩn hóa; thúc đẩy khoa học công nghệ và chuyển đổi số; và tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng hướng tới văn hóa sống xanh và Net Zero.

Đề tài đề xuất hệ thống chính sách đồng bộ cho ngành xây dựng bao gồm: hoàn thiện tiêu chuẩn quy chuẩn về công trình phát thải thấp với các ngưỡng phát thải tối đa bắt buộc; chương trình cải tạo công trình hiện hữu theo hướng tiết kiệm năng lượng; phát triển mô hình đô thị các-bon thấp gắn với quy hoạch tích hợp khí hậu; thúc đẩy vật liệu xây dựng không nung và tuần hoàn; xây dựng cơ chế tài chính và thị trường các-bon cho lĩnh vực xây dựng - giao thông đô thị; thu hút đầu tư tư nhân và nguồn vốn khí hậu quốc tế; và phát triển nguồn nhân lực xây dựng - giao thông các-bon thấp với hệ thống chứng chỉ bắt buộc.

Kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ lần đầu tiên cung cấp một bức tranh toàn diện, có cơ sở khoa học về năng lực thực tế của hệ thống đô thị Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu Net Zero 2050. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng Việt Nam đang đứng trước một lợi thế đáng kể: khung chính sách đang dần hoàn thiện, nhiều giải pháp kỹ thuật có chi phí giảm phát thải âm hoặc thấp đã sẵn sàng để triển khai, và nhận thức về biến đổi khí hậu trong đội ngũ cán bộ đô thị ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không nằm ở thiếu chính sách mà ở khoảng cách giữa chính sách và thực thi: thiếu chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu, thiếu cơ chế tài chính khí hậu minh bạch, thiếu hệ thống dữ liệu phát thải chuẩn hóa và thiếu cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả – đặc biệt nghiêm trọng ở nhóm đô thị loại 2. Hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách được đề tài đề xuất có tính khả thi cao, bám sát bối cảnh cải cách hành chính hiện hành và mục tiêu Net Zero quốc gia, tạo nền tảng để Bộ Xây dựng và các địa phương thiết lập mô hình quản trị đô thị – khí hậu hiện đại, hướng tới xây dựng một hệ thống đô thị Việt Nam phát thải thấp, thích ứng bền vững và đóng góp có trách nhiệm vào cam kết khí hậu toàn cầu vào năm 2050.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.