Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 12580
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu ứng dụng vi tảo và chế phẩm vi sinh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rươi trong mô hình lúa rươi tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (10/04/2026)

Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus) là loài giun nhiều tơ thuộc ngành giun đốt, sinh sống tự nhiên ở các vùng cửa sông, đầm phá và bãi triều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều. Đây là đặc sản có giá trị dinh dưỡng và kinh tế rất cao tại nhiều tỉnh ven biển miền Bắc như Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Quảng Ninh. Thịt rươi giàu protein, được dùng làm thực phẩm hàng ngày, chế biến thành các sản phẩm như bột rươi, mắm rươi, đồng thời còn là nguồn thức ăn tươi sống cao cấp phục vụ nuôi tôm bố mẹ. Giá rươi trên thị trường dao động từ 250.000 đến 500.000 đồng/kg, và rươi Hải Dương thường có giá cao hơn nhờ kích thước lớn và chất lượng vượt trội so với các vùng khác. Ngoài giá trị kinh tế, rươi còn đóng vai trò sinh thái quan trọng: tham gia phân hủy mùn bã hữu cơ, tái tuần hoàn vật chất và duy trì độ phì nhiêu, tơi xốp cho đất vùng triều, tạo nền tảng cho mô hình canh tác lúa-rươi hữu cơ đang được nhiều địa phương quan tâm phát triển.

Trong số các khu vực canh tác rươi của cả nước, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nổi tiếng với sản phẩm rươi chất lượng cao và quy mô sản xuất lớn, trong đó xã An Thanh là vùng trọng điểm với hàng trăm héc-ta ruộng lúa-rươi cả trong và ngoài đê. Tuy nhiên, mặc dù tiềm năng kinh tế rõ ràng, ngành sản xuất rươi tại đây đang đối mặt với những hạn chế nghiêm trọng: năng suất thấp, không ổn định, kích thước rươi không đồng đều và phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên. Nhiều ruộng nằm sát cạnh nhau nhưng cho sản lượng rất chênh lệch mà chưa rõ nguyên nhân, phản ánh tình trạng thiếu quy trình kỹ thuật thống nhất và có hệ thống. Người dân đã tự mày mò cải tạo nền ruộng, bổ sung cám gạo, ngô, đậu tương để cung cấp dinh dưỡng cho rươi, nhưng các biện pháp còn rời rạc, thiếu cơ sở khoa học nên hiệu quả chưa rõ ràng và khó nhân rộng.

Từ góc độ sinh thái học, rươi là loài có tập tính ăn đa dạng - từ ăn lọc mùn bã hữu cơ, vi tảo đến ăn xác động thực vật phân hủy - và chất lượng môi trường nền đáy cùng cộng đồng vi sinh vật, vi tảo trong trầm tích có vai trò quyết định đối với sinh trưởng và năng suất của chúng. Các nghiên cứu sinh thái học đã chứng minh rằng vi tảo đáy và vi sinh vật hữu ích không chỉ cung cấp nguồn thức ăn trực tiếp mà còn điều tiết chất lượng nền đáy thông qua phân hủy chất hữu cơ, cân bằng quá trình hiếu khí-yếm khí và ngăn ngừa ngộ độc hữu cơ trong ruộng rươi. Song đến nay, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam ứng dụng có hệ thống các chế phẩm vi sinh và vi tảo kết hợp thức ăn bổ sung để chủ động nâng cao năng suất và chất lượng rươi trong mô hình lúa-rươi hữu cơ.

Trước thực tiễn đó, Viện nghiên cứu Vi tảo và Dược mỹ phẩm, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: "Nghiên cứu ứng dụng vi tảo và chế phẩm vi sinh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rươi trong mô hình lúa rươi tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương", do TS. Phí Thị Cẩm Miện làm chủ nhiệm, thực hiện từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2025 với tổng kinh phí từ ngân sách sự nghiệp khoa học là 785 triệu đồng.

Đếm lỗ rươi và đánh giá tương quan số lượng và kích thước rươi thực tế.

Để xây dựng cơ sở thực tiễn cho nghiên cứu, đề tài tiến hành khảo sát toàn diện tại các huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà, Kinh Môn và Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương, tập trung vào tập quán canh tác, chế độ bổ sung thức ăn, mật độ lỗ rươi và năng suất khai thác thực tế tại từng hộ.

Kết quả khảo sát tại xã An Thanh - vùng trọng điểm với 214 ha ruộng trong đê và 137 ha ruộng ngoài đê cho thấy quy trình canh tác còn hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm, thiếu thống nhất và chưa ứng dụng chế phẩm vi sinh. Đặc biệt, đa số hộ chưa ủ phân hữu cơ hoai mục trước khi bón, dẫn đến tình trạng quá tải hữu cơ trong nền ruộng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái của rươi.

Phân tích vi sinh vật nền ruộng cho thấy các ruộng có mật độ lỗ rươi cao thường tương ứng với mật độ vi sinh vật hiếu khí tổng số cao hơn và cấu trúc quần thể vi sinh vật đa dạng hơn. Các nhóm vi khuẩn chức năng quan trọng được ghi nhận gồm Bacillus spp. (phân giải hữu cơ), Pseudomonas spp. và Thiobacillus spp. (chuyển hóa lưu huỳnh và nitơ), cùng nấm men có khả năng phân giải chất hữu cơ. Các nhóm vi tảo đáy và vi tảo phù sa như tảo silic (Navicula, Nitzschia), tảo lục (Chlorella, Scenedesmus) và tảo lam không độc cũng được ghi nhận là nguồn thức ăn tự nhiên quan trọng góp phần cải thiện môi trường nền ruộng và hỗ trợ sinh trưởng của rươi.

Đánh giá mối tương quan giữa mật độ lỗ rươi và năng suất cho thấy hai chỉ tiêu này có tương quan thuận rõ ràng, song mật độ lỗ rươi không tỷ lệ thuận với kích thước cá thể. Đây là phát hiện có giá trị, gợi mở cách tiếp cận quản lý dinh dưỡng chủ động thay vì chỉ phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên.

Nghiên cứu xây dựng công thức thức ăn bổ sung và hoàn thiện quy trình ứng dụng vi sinh, vi tảo khởi đầu bằng việc thử nghiệm phản ứng của rươi với các loại nguyên liệu thức ăn khác nhau trong điều kiện hộp xốp có kiểm soát, từ đó xác định khả năng tiếp nhận và mức độ ưa thích của rươi đối với từng thành phần. Các nguyên liệu được đánh giá gồm nhiều loại hữu cơ sẵn có như cám gạo, bột ngô, bột đậu tương, rơm rạ ủ vi sinh, kết hợp với bột vi tảo Spirulina và các chế phẩm vi sinh hữu ích.

Dựa trên kết quả thử nghiệm và phân tích thành phần dinh dưỡng, nhóm nghiên cứu xây dựng và tối ưu hóa công thức thức ăn bổ sung (CT2) đảm bảo cân đối các thành phần carbohydrate, protein, khoáng và vi chất, phù hợp với tập tính ăn của rươi và điều kiện sinh thái nền ruộng lúa-rươi. Đặc biệt, việc lần đầu tiên đưa bột vi tảo Spirulina và chế phẩm vi sinh hữu ích vào thành phần thức ăn bổ sung trong điều kiện ruộng canh tác là đóng góp khoa học ứng dụng quan trọng, bổ sung vào hướng nghiên cứu dinh dưỡng cho giun nhiều tơ trong hệ sinh thái nước lợ vốn còn hạn chế tại Việt Nam.

Song song đó, chế phẩm vi sinh phân hủy hữu cơ được ứng dụng để xử lý bã mùn hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp trong ruộng trước khi nuôi, nhằm cải thiện chất lượng nền đáy, ngăn ngừa ngộ độc hữu cơ và tạo điều kiện thuận lợi cho vi tảo phát triển tự nhiên, từ đó gián tiếp nâng cao nguồn thức ăn tự nhiên cho rươi. Công thức thức ăn được thiết kế dưới dạng viên nhỏ 2-3 mm, bón trực tiếp hoặc phun hạt lên mặt ruộng theo quy trình định kỳ, giúp giảm công lao động, tăng hiệu quả sử dụng và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Thử nghiệm trong các ô quây lưới tại cả khu vực trong đê và ngoài đê xác nhận công thức CT2 kết hợp chế phẩm vi sinh cho kết quả tốt nhất về gia tăng mật độ lỗ rươi và cải thiện chất lượng nền đáy so với các công thức đối chứng và các công thức thử nghiệm khác.

Nhóm nghiên cứu tiếp tục xây dựng mô hình ứng dụng và đánh giá hiệu quả thực tiễn. Mô hình thử nghiệm được triển khai trên quy mô 2 ha tại xã An Thanh, Tứ Kỳ, gồm mô hình trong đê (1 ha, 3 hộ tham gia) và mô hình ngoài đê (1,2 ha, hộ ông Phạm Xuân Luận), theo dõi liên tục trong hai năm 2024 và 2025.

Kết quả theo dõi năng suất cho thấy mô hình ứng dụng thức ăn bổ sung vượt trội rõ rệt so với ruộng đối chứng ở cả hai năm và cả hai vùng sinh thái. Năm 2024, ruộng trong đê đối chứng đạt năng suất trung bình 28,4 kg/sào, trong khi mô hình đạt 33 kg/sào, tăng 16,2%. Ruộng ngoài đê đối chứng đạt 48,4 kg/sào, mô hình đạt 54,9 kg/sào, tăng 13,9%. Năm 2025, năng suất mô hình trong đê đạt 34,1 kg/sào (tăng 13,3% so với đối chứng 30,1 kg/sào); ngoài đê đạt 55,9 kg/sào (tăng 12,9% so với đối chứng 49,5 kg/sào). Mức tăng được duy trì ổn định qua cả hai năm, đặc biệt rõ nét ở vụ chiêm, giai đoạn điều kiện môi trường kém thuận lợi, rươi phụ thuộc nhiều nhất vào nguồn dinh dưỡng bổ sung.

Về chất lượng rươi, mô hình bổ sung thức ăn mang lại cải thiện vượt bậc. Rươi ở mô hình trong đê đạt khối lượng trung bình 1,68 g/con, tương ứng khoảng 595 con/kg, với hệ số biến động kích cỡ (CV) chỉ 4,2%, phản ánh quần thể rươi đồng đều cao. Mô hình ngoài đê đạt 1,61 g/con, tương ứng 621 con/kg, CV 14,45%. Trong khi đó, rươi đối chứng chỉ đạt trung bình 1,08 g/con, tương ứng hơn 920 con/kg với CV lên tới 30,6%, cho thấy sự phân hóa kích cỡ rất lớn và điều kiện sinh trưởng không ổn định. So sánh định lượng cho thấy mô hình trong đê làm tăng khối lượng cá thể rươi khoảng 55-56% và giảm CV kích cỡ hơn 7 lần so với đối chứng. Đây là cải thiện có ý nghĩa thực tiễn lớn vì kích thước và độ đồng đều của rươi quyết định trực tiếp đến giá bán thương phẩm.

Về hiệu quả kinh tế, phân tích so sánh cho thấy tỷ suất lợi nhuận so với chi phí đầu tư của mô hình cải tiến đạt VCR > 1,67, tức là mỗi đồng vốn bỏ thêm đem lại lợi nhuận ròng cao hơn đáng kể so với canh tác truyền thống. Lợi nhuận tăng thêm ít nhất 500.000 đồng/sào (tương đương 14,35 triệu đồng/ha). Nếu nhân rộng trên toàn bộ diện tích hơn 300 ha của Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp An Thanh, lợi nhuận tăng thêm ước tính có thể đạt trên 4,3 tỷ đồng/năm cho thấy tiềm năng kinh tế rõ rệt và quy mô tác động đáng kể khi nhân rộng mô hình.

Đề tài cũng thực hiện đầy đủ các hoạt động truyền thông, gồm 03 tin bài đăng trên Bản tin Khoa học và Công nghệ Hải Dương và 02 video giới thiệu mô hình phát sóng trên Truyền hình Hải Dương và nền tảng YouTube, góp phần nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tiếp cận và áp dụng quy trình kỹ thuật mới.

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa mật độ vi sinh vật, vi tảo trong nền ruộng với mật độ lỗ rươi và năng suất khai thác, đặt nền tảng lý luận cho hướng quản lý dinh dưỡng chủ động trong hệ thống lúa-rươi hữu cơ. Lần đầu tiên bột vi tảo Spirulina kết hợp chế phẩm vi sinh được đưa vào thành phần thức ăn bổ sung cho rươi trong điều kiện ruộng thực tế, mở ra hướng ứng dụng mới cho dinh dưỡng học của giun nhiều tơ trong hệ sinh thái nước lợ.

Về mặt thực tiễn, mô hình áp dụng thức ăn bổ sung đã giúp tăng năng suất rươi từ 11-24% trong cả hai năm và cả hai điều kiện sinh thái trong đê và ngoài đê, đồng thời tăng kích thước và độ đồng đều cá thể rươi rõ rệt so với canh tác truyền thống. Hiệu quả kinh tế tăng thêm ít nhất 14,35 triệu đồng/ha, với tỷ suất lợi nhuận cao hơn canh tác thông thường. Quy trình kỹ thuật bổ sung vi tảo, vi sinh và thức ăn cho rươi đã được công nhận cấp cơ sở và chuyển giao cho Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp An Thanh, tạo tiền đề quan trọng để nhân rộng mô hình tại huyện Tứ Kỳ và các địa phương có điều kiện sinh thái tương tự, góp phần đưa con rươi từ đối tượng khai thác tự nhiên phụ thuộc hoàn toàn vào "lộc trời" trở thành đối tượng nuôi được quản lý chủ động, bền vững và hiệu quả hơn.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.