Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 19235
Tổng truy cập : 57,998

Khoa học nông nghiệp

Nghiên cứu xác định vùng trồng và các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà và nuôi ong lấy mật tại vùng Cao nguyên đá tỉnh Hà Giang (10/03/2026)

Mật ong bạc hà của tỉnh Hà Giang là một đặc sản quý hiếm, các nước xuất khẩu mật ong lớn trên thế giới cũng không có sản phẩm này. Chất lượng đặc thù của sản phẩm gắn liền với cây nguồn mật bạc hà dại đã tồn tại và sinh trƣởng rất lâu đời tại cao nguyên đá (CNĐ) Đồng Văn, đồng thời cũng gắn liền với đời sống của người dân và các hoạt động văn hóa du lịch tại công viên địa chất toàn cầu. Mật ong bạc hà cũng được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00035 theo Quyết định số 316/QĐ-SHTT ngày 01/03/2013.

Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã ban hành các chính sách, thực hiện nhiều giải pháp để phát triển nghề nuôi ong lấy mật như: chính sách hỗ trợ vốn, đào tạo, tập huấn, xúc tiến thương mại, vận động bà con mở rộng diện tích hoa bạc hà dại (BHD), áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong chăn nuôi ong nhằm tăng thu nhập, giảm nghèo cho bà con dân tộc vùng CNĐ Đồng Văn. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp phải một số các vướng mắc sau:

Tập quán nuôi ong truyền thống còn mang lại giá trị thấp. Tuy đã hình thành các hợp tác xã (HTX) sản xuất và kinh doanh mật ong, số lượng đàn ong đã tăng đáng kể nhưng quy mô sản xuất vẫn còn nhỏ, chưa có nhiều mô hình liên kết sản xuất tập trung quy mô lớn. Cây nguồn mật bạc hà lại là cây dại, bà con để mọc tự nhiên ở chân đất 1 vụ ngô, chưa được chú trọng gieo trồng, diện tích BHD có nguy cơ giảm dẫn đến người chăn nuôi ong không chủ động được nguồn cung cấp mật hoa. Do vậy rất cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa người nuôi ong với người có đất trồng BHD, cũng cần tăng cường sự liên kết giữa các hộ chăn nuôi và các đơn vị kinh doanh mật ong nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.

Đất, rất quan trọng đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp. Trong sử dụng đất nông nghiệp, thì điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai là bước nghiên cứu quan trọng nhất, là cơ sở khoa học để định hƣớng và bố trí hợp lý cây trồng. Việc nghiên cứu các vùng đất thích hợp với cây BHD, đồng thời với nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật trồng trọt BHD là rất có ý nghĩa để mở rộng diện tích vùng trồng cây nguồn mật này.

Cách mạng thông tin đã tác động sâu sắc vào tất cả các lĩnh vực khoa học, đời sống, kinh tế, xã hội, tạo nên sự chuyển biến về chất của nền văn minh xã hội loài người. Trong nông nghiệp, nhờ những khả năng phân tích và xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác, công nghệ thông tin (CNTT) giúp hoạch định chiến lược phát triển và hỗ trợ ra quyết định thông qua thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) đầy đủ, đồng thời nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác báo cáo, thống kê, kiểm tra, giám sát. Do vậy, ngành chăn nuôi ong của Hà Giang cũng cần chuẩn bị hệ thống các CSDL để có thể ứng dụng CNTT nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất, đồng thời phục vụ công tác quản lý và phát triển trong chuỗi sản xuất và kinh doanh mật ong bạc hà.

Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Lê Thị Mỹ Hảo cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thực hiện “Nghiên cứu xác định vùng trồng và các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà và nuôi ong lấy mật tại vùng Cao nguyên đá tỉnh Hà Giang” với mục tiêu xác định phạm vi vùng thích hợp phát triển trồng bạc hà, xây dựng các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà và nuôi ong lấy mật nhằm duy trì danh tiếng sản phẩm “Mật ong bạc hà Mèo Vạc” nhằm nâng cao đời sống người dân vùng cao nguyên đá tỉnh Hà Giang.

Trên cơ sở điều tra đánh giá về đặc thù thổ nhưỡng của đất trồng BHD, tri thức bản địa về khai thác cây BHD, mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa đến đến sinh trưởng phát triển cây BHD và chất lượng mật ong, đã xác định được những vùng đất đai thích hợp trồng cây BHD để nuôi ong lấy mật quy mô cho từng huyện và tổng hợp cho toàn vùng CNĐ của tỉnh Hà Giang. Trong tổng số diện tích 114.350,00 ha đất trồng cây hàng năm và đất đồi núi chưa sử dụng của 04 huyện vùng CNĐ tỉnh Hà Giang, diện tích đề xuất quy hoạch phạm vi vùng thích hợp phát triển trồng bạc hà là 88.159,47 ha trong đó: Huyện Quản Bạ 13.885,24 ha, huyện Yên Minh là: 29.045,80 ha, huyện Đồng Văn là: 16.651,21 ha và huyện Mèo Vạc là 28.577,14 ha. Đây chính là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý hoạch định chính sách có thể đưa ra được những quyết định hợp lý về quy hoạch và định hướng phát triển cây BHD của địa phương trong thời gian tới hoặc theo những giai đoạn cụ thể.

Xây dựng đƣợc 03 qui trình kỹ thuật: (i) Quy trình nhân giống BHD phục vụ nuôi ong lấy mật; (ii) Quy trình trồng và chăm sóc cây BHD phục vụ nuôi ong lấy mật và (iii) qui trình kỹ thuật nuôi ong nội lấy mật bằng thùng kế tại vùng phát triển cây BHD, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đã đào tạo tập huấn hướng dẫn các quy trình kỹ thuật trên cho 200 hộ dân trên 4 huyện vùng NCĐ. Các quy trình đã được sở NN và PTNT tỉnh Hà Giang ban hành tại QĐ số 32/QĐ-SNN-TTBVTV ngày 25/1/2022.

Xây dựng được 06 mô hình liên kết sản xuất mật ong bạc hà tại 4 huyện vùng CNĐ. Nội dung liên kết về sản xuất và kinh doanh mật ong bạc hà theo chuỗi giá trị. Số thành viên tham gia thêm trong các mô hình liên kết là 210 thành viên với các hình thức liên kết bao tiêu, tiệu thụ sản phẩm mật ong đối với các hộ có chăn nuôi ong; Trả tiền thuê đất theo vụ với các hộ có diện tích hoa BHD mọc. Việc thực hiện liên kết được các bên cùng ký cam kết các điều khoản trách nhiệm giữa HTX và các thành viên tham gia liên kết theo hình thức hợp đồng. Kết quả đã có 44,75 ha diện tích BHD được liên kết trong 6 mô hình, tổng số lượng đàn ong trong 6 mô hình liên kết đạt 6.352 đàn, thông qua đó đã liên kết tiêu thụ được từ các hộ thành viên là 10.387 lít mật ong trong năm 2020. Khi so sánh giá trị sản xuất trong các mô hình liên kết tại 4 huyện với giá trị sản xuất ngoài mô hình tăng từ 17,85% - 20,78%, tương tự lợi nhuận cũng tăng từ 14,97 – 25,2%. Như vậy mô hình chuỗi liên kết sản xuất mật ong bạc hà tại 4 huyện đã xây dựng được đạt kết quả và hiệu quả kinh tế khá cao.

Ngoài ra, các mô hình trong chuỗi liên kết sản xuất được hỗ trợ tư vấn từ phía đề tài về các kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây BHD, kỹ thuật nuôi ong bằng thùng kế. Ngoài ra, 4/6 mô hình đƣợc hỗ trợ máy hạ thủy phần nhằm tăng cường năng lực sản xuất đảm bảo chất lượng của mật ong. 2/6 mô hình được hỗ trợ thiết kế bao bì sản phẩm mật ong, mỗi mô hình được hỗ trợ 500 vỏ hộp nhằm tăng cường khả năng quảng bá sản phẩm và cung cấp các thông tin kết nối với một số thị trƣờng tiềm năng tại Hà Nội.

Xây dựng được hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý phát triển chuỗi mật ong bạc hà trên địa bàn tỉnh Hà Giang gồm:

- 05 nhóm CSDL chính gồm: Nhóm CSDL hành chính; nhóm CSDL phân vùng thích nghi; nhóm CSDL cơ sở SXKD mật ong; nhóm CSDL quản trị, truy xuất nguồn gốc và nhóm CSDL khác.

- 01 trang thông tin gồm: Trang chủ, trang tin tức giới thiệu về Đề tài, tin tức hoạt động, thư viện hình ảnh, video.

- 08 nhóm module chức năng gồm: (1) Quản trị hệ thống: Quản trị hệ thống, sao lưu dữ liệu phục hồi, cấu hình, quản lý các tiện ích phần mềm; (2) Đăng ký thành viên: Người dùng có thể đăng ký tài khoản để trở thành thành viên trong hệ thống; (3) Quản trị thành viên: Quản trị thành viên, phân quyền quản trị, hoạt động trên hệ thống; (4) Khai thác thông tin: Khai thác thông tin, dữ liệu, số liệu trên hệ thống theo quyền hạn và chức năng; (5) Cập nhật bản đồ (CSDL GIS): Cập nhật dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính của các lớp bản đồ chuyên đề trong CSDL theo quyền hạn; (6) Hiển thị bản đồ: Hiển thị bản đồ, bật, tắt các lớp dữ liệu, phóng to, thu nhỏ, chú giải bản đồ; (7) Quản trị, truy xuất nguồn gốc; (8) Trợ giúp và liên hệ: Tạo mới, sửa, xóa Module trợ giúp và liên hệ giữa ngƣời sử dụng và ngƣời quản trị hệ thống.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21591/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê./.

Đ.T.V (NASTIS)

Ngày cập nhật: 24/02/2026

https://www.vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-xac-dinh-vung-trong-va-cac-giai-phap-ky-thuat-phat-trien-cay-bac-ha-va-nuoi-ong-lay-mat-tai-vung-cao-nguyen-da-tinh-ha-giang-12730.html