Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 3944
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (23/03/2026)

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) là xương sống của nền kinh tế, đóng góp vào tạo việc làm, gia tăng quy mô kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Nhóm doanh nghiệp này và quốc gia sẽ nhận được nhiều lợi ích nếu có được vị trí trong các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs). Việc thúc đẩy DNVVN tham gia vào GVCs không chỉ đưa Việt Nam tham gia sâu hơn và nâng cấp lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong GVCs mà còn giúp nâng cao năng lực và năng suất của DNVVN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Với mục tiêu tổng quát là đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của DNVVN Việt Nam, năm 2025 Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) đã thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”, kết quả nghiên cứu cụ thể như sau:

- Chương 1, trình trình bày khái niệm, đặc điểm và vai trò của DNVVN; khái niệm, vai trò của GVCs; cơ sở lý luận về tham gia GVCs của DNVVN (hình thức tham gia, lợi ích, bất lợi và hiệu quả tham gia GVCs của DNVVN). Bên cạnh cơ sở lý luận, Chương 1 cũng đã rà soát kinh nghiệm hỗ trợ DNVVN tham gia GVCs của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan và rút ra một số bài học mà Việt Nam có thể áp dụng.

 

Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng.

- Chương 2, mở đầu bằng việc phân tích thực trạng tham gia GVCs của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2022. Kết quả tính toán cho thấy: (i) Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào GVCs; (ii) Chỉ số tham gia GVC tăng chủ yếu do đóng góp của tỷ lệ tham gia ngược chiều, trong khi tỷ lệ tham gia xuôi chiều có giá trị nhỏ và có xu hướng giảm dần, cho thấy sự phụ thuộc ngày càng lớn vào đầu vào nhập khẩu; (iii) Chỉ số vị thế trong GVC của Việt Nam giảm liên tục. Hầu hết các ngành cấp I đều ở trung nguồn. Phân tích hiệu quả tham gia GVCs của DNVVN cho thấy doanh nghiệp lớn có mức độ tham gia GVCs cao hơn DNVVN. Năm 2019, tỷ lệ tham gia xuôi chiều của DNVVN là 42,4%; không chênh lệch nhiều so với doanh nghiệp lớn (43,2%). Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia ngược chiều của DNVVN là 16,4%, thấp hơn nhiều tỷ lệ 53,6% của doanh nghiệp lớn. So với năm 2011, mức độ tham gia GVC của DNVVN và doanh nghiệp lớn tăng theo thời gian. Xem xét thêm việc tham gia GVCs của DNVVN thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp theo quy mô tham gia hoạt động ngoại thương có sự chênh lệch rõ rệt. Năm 2019, chỉ có 1,72% DNVVN thực hiện xuất khẩu trực tiếp và 2,17% nhập khẩu trực tiếp; trong khi có tới 42,9% doanh nghiệp lớn xuất khẩu và 44,5% nhập khẩu. Về liên kết trong GVCs, năm 2023 có khoảng 62% doanh nghiệp lớn có liên kết trong GVC, gấp 3 lần tỷ lệ doanh nghiệp vừa (20%) và gấp 5 lần tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ (12%). Trong việc tham gia GVCs, DNVVN có cơ hội từ việc Việt Nam đang khẳng định là một trong các trung tâm sản xuất của khu vực Đông Nam Á dựa trên các lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi, lực lượng lao động trẻ, tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTAs). Tuy nhiên, DNVVN phải đối mặt với 3 nhóm thách thức chính: (i) hạn chế về công nghệ, vốn, nhân lực chất lượng cao và năng lực quản trị theo chuẩn quốc tế; (ii) liên kết yếu giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI và mạng lưới sản xuất toàn cầu; (iii) sức ép ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và trách nhiệm xã hội.

 

Các kênh chuyển giao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Chương 3, đánh giá các yếu tố tham gia GVCs của DNVVN, gồm yếu tố bên ngoài (thể chế; hạ tầng; chính sách tạo thuận lợi thương mại; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, GVCs; chính sách hỗ trợ xuất khẩu; chính sách thu hút đầu tư; chính sách thu hút FDI; chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ); yếu tố bên trong (đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, liên kết với doanh nghiệp FDI). Chính sách thu hút FDI, có sự thay đổi rõ rệt về tư duy và các quy định, hệ thống chính sách pháp luật liên quan. Tuy nhiên, chính sách FDI chưa đồng bộ với tổng thể chính sách về công nghiệp, lao động, giáo dục, đào tạo, sở hữu trí tuệ. Định hướng mục tiêu của chính sách đầu tư nước ngoài còn hạn chế, chỉ đáp ứng với những thay đổi của hoàn cảnh, chưa có giải pháp đồng bộ cho các mục tiêu dài hạn. Các chính sách ưu đãi đầu tư đã phát huy hiệu quả trong việc thu hút FDI trong giai đoạn đầu, nhưng ít tác động đến việc định hướng dòng vốn FDI do khuôn khổ chính sách còn khá dàn trải và đa dạng về các lĩnh vực, ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư. Chính sách chưa rõ ràng, thiếu nhất quán và cụ thể. Việc thu hút FDI chất lượng cao và thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI với khu vực doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Nhìn chung, các yếu tố đang dần được cải thiện, nhưng còn chậm và chưa theo kịp yêu cầu của tình hình, gây ảnh hưởng đến hoạt động và sự tham gia GVCs của doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN. Đã phân tích định lượng tác động của một số yếu tố kể trên tới mức độ tham gia GVCs của DNVVN. Kết quả ước lượng cho thấy tốc độ tăng trưởng lao động, trang bị kỹ thuật, chất lượng nhân lực, quy mô, số năm hoạt động và vị trí địa lý có tác động tích cực tới mức độ tham gia GVCs của DNVVN. Liên kết với doanh nghiệp FDI cũng giúp DNVVN tăng khả năng tham gia vào GVC. Vai trò thúc đẩy của môi trường kinh doanh cấp tỉnh với việc tham gia GVC của DNVVN cũng được thể hiện.

- Chương 4, trình bày bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến sự tham gia và mở rộng vị trí của DNVVN trong GVCs. Năm yếu tố quốc tế gồm: (i) căng thẳng địa chính trị, gia tăng bảo hộ làm GVCs bị phân mảnh, thúc đẩy xu hướng đa dạng hóa, địa phương hóa trong GVCs; (ii) chính sách công nghiệp mới của một số nước có thể làm méo mó thương mại; (iii) sự phát triển của công nghệ làm giảm nhu cầu lao động giá rẻ ở một số ngành công nghiệp; (iv) những chuẩn mực quốc tế đang tạo áp lực tuân thủ cho doanh nghiệp, song đồng thời cũng là cơ hội tạo động lực nâng tầm năng lực cạnh tranh cho DNVVN; (v) xu hướng dịch chuyển cầu tiêu dùng toàn cầu sang châu Á tạo ra cơ hội cho DNVVN Việt Nam trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thị trường này. Bối cảnh trong nước chủ yếu nêu ra 4 đột phá chiến lược và trình bày hai đột phá liên quan trực tiếp tới việc tham gia GVCs của DNVVN là Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Báo cáo này được thực hiện trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của biến động địa chính trị, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và các rào cản kỹ thuật mới (ESG, CBAM, truy xuất nguồn gốc ...), việc thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào GVCs không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu chiến lược đối với tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn doanh nghiệp trong nước hiện vẫn chỉ tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, tỷ lệ nội địa hóa còn hạn chế và năng lực công nghệ, quản trị chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế.

Từ thực trạng tham gia GVCs của Việt Nam, thực trạng tham gia GVCs của DNVVN Việt Nam; đánh giá các yếu tố tác động tới sự tham gia GVCs của DNVVN và bối cảnh trong nước và quốc tế, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia GVCs của DNVVN, gồm: (1) Giải pháp vĩ mô: tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho DNVVN; Chính sách tạo thuận lợi thương mại; Chính sách xúc tiến thương mại; Chính sách thúc đẩy liên kết; Phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với chuỗi giá trị toàn cầu); (2) Giải pháp với DNVVN: Hỗ trợ DNVVN nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức về hội nhập và thị trường, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin; Hỗ trợ DNVVN đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động; Hỗ trợ DNVVN tiếp cận và tích tụ nguồn vốn; Tạo dựng cơ sở hạ tầng thuận lợi cho DNVVN mở rộng thị trường và tham gia vào chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu; Tăng cường hỗ trợ DNVVN trong việc đào tạo nhân lực; Hỗ trợ DNVVN lựa chọn các khâu phù hợp để tham gia và nâng cao vị thế trong chuỗi; Hỗ trợ DNVVN liên kết với các doanh nghiệp lớn trong nước và quốc tế, vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; Hỗ trợ DNVVN chuyển đổi số, hướng dẫn chuẩn hóa quy trình, chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế; (3) Giải pháp của DNVVN: Xây dựng định hướng dài hạn, tăng cường năng lực cạnh tranh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Đồi mới công nghệ và chuyển đổi số; Đào tạo nhân lực, tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo; Nghiên cứu thị trường; Tăng cường liên kết với doanh nghiệp FDI; Đáp ứng các yêu cầu mới.

Các giải pháp của đề tài góp phần tạo năng lực và điều kiện để doanh nghiệp tham gia và mở rộng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, giảm phụ thuộc vào gia công và từng bước khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Việc thực hiện đề tài giúp nâng cao năng lực (cạnh tranh, công nghệ…) của DNVVN, giúp khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh và trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Việc thực hiện các giải pháp chính sách góp phần thực hiện Nghị quyết 59-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và các kế hoạch hành động của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng.