Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 432 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở khu vực phi chính thức trong tình hình mới (11/03/2026)
Bình đẳng giới được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu như là sự cần thiết cho phát triển bền vững và giảm nghèo cho nam giới và phụ nữ, cải thiện mức sống cho tất cả mọi người. Bình đẳng giới có tầm quan trọng sống còn đối với các nền kinh tế, các ngành kinh doanh tạo ra lợi nhuận và hiện thực hoá đầy đủ tiềm năng và hạnh phúc của con người.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về bình đẳng giới (BĐG) và đã được công nhận là quốc gia xoá bỏ khoảng cách giới nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Chỉ số Khoảng cách Giới toàn cầu, thứ hạng của Việt Nam năm 2022 tăng lên bốn bậc so với năm 2021, từ vị trí thứ 87 lên thứ 83 trong tổng số 146 quốc gia, với số điểm 0,705/1. Mặc dù ở Việt Nam, nữ giới chiếm tỷ trọng gần bằng nam giới trong tổng số lao động của cả nước (47,4% năm 2020), nhưng lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động gia đình không hưởng lương, lao động dễ bị tổn thương và đã tăng hàng năm (66,6% năm 2016 lên 67,9% năm 2020). Các nghiên cứu cho thấy rằng, tác động của đại dịch Covid-19 rất không đồng đều giữa các quốc gia, giữa các nhóm dân cư, nhưng có một điểm chung là người lao động trong khu vực phi chính thức, lao động có tay nghề thấp, trẻ và nữ giới bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Tỷ lệ thất nghiệp trong các nhóm dân số này đã tăng một cách thiếu cân đối, làm trầm trọng thêm các xu hướng bất bình đẳng tiềm ẩn trên thị trường lao động. Cùng với các vấn đề mới liên quan đến tác động của đại dịch, cách mạng công nghiệp 4.0, lao động làm việc trong KVPCT sẽ khó có xu hướng giảm. Trong khi đó, sự phân biệt đối xử về giới trong thị trường lao động PCT luôn khắc nghiệt hơn so với thị trường lao động chính thức. Chính vì vậy, Trường Lao động – xã hội tiến hành triển khai nghiên cứu đề tài “Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở KVPCT trong tình hình mới” là hết sức cần thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế theo hướng bền vững. Đề tài do TS Nguyễn Thị Hồng làm chủ nhiệm nhiệm vụ.
Nghiên cứu này đã tập trung phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng lao động, việc làm ở KVPCT dưới lăng kính giới; thực trạng thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm KVPCT. Nghiên cứu cũng đã phân tích các nhân tố thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm KVPCT, đặc biệt là các nhân tố xuất phát từ tình hình mới về kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Kết quả cụ thể như sau:
Khoảng cách giới về mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới trong công việc chăm sóc gia đình, việc làm dễ bị tổn thương có xu hướng giảm nhẹ; Hệ thống văn bản pháp luật chính sách tiếp tục được hoàn thiện theo hướng bình đẳng giới thông qua những nỗ lực lồng ghép giới trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của Việt Nam, như Hiến pháp 2013, Luật đất đai năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, Bộ luật Dân sự sửa đổi, Bộ luật Lao động năm 2019,… đóng góp thu hẹp khoảng cách về giới trong lao động việc làm ở khu vực phi chính thức; Nâng cao nhận thức của nhân dân đối với bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác nhau như quyền sử dụng, thừa kế quyền sử dụng đất đai, nhà ở và các tài sản gắn liền với đất và các tài sản khác, và nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Đó là nhờ đóng góp quan trọng của công tác truyền thông về bình đẳng giới trong nhiều năm qua, bao gồm các hoạt động phổ biến pháp luật và chính sách về bình đẳng giới và các chiến dịch truyền thông theo các chủ đề khác nhau được thực hiện hàng năm.

Tỷ lệ lao động có việc làm PCT trong tổng số người đang làm việc chia theo giới tính và trình độ CMKT và chỉ số khoảng cách giới năm 2021.
Ban hành các chính sách phát triển các dịch vụ chăm sóc, giảm gánh nặng chăm sóc cho phụ nữ như trường mầm non, chăm sóc người cao tuổi. Điều này góp phần thúc đẩy trách nhiệm xã hội đối với việc chăm sóc trẻ tại các vùng, kể cả vùng khó khăn. Ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn thì cung cấp các dịch vụ thiết yếu đối với các gia đình giúp giảm nhẹ thời gian chăm sóc gia đình cho phụ nữ và trẻ em gái;
Triển khai thực hiện nhiều đề án và hoạt động cụ thể như Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015”, Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm đã tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số - lao động tập trung ở khu vực phi chính thức, đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động việc làm ở khu vực phi chính thức, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa;
Lồng ghép giới trong hỗ trợ vốn/ tiếp cận tín dụng tạo điều kiện cho lao động nữ được tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất, tăng cơ hội việc làm năng suất, giảm khoảng cách giới trong lao động việc làm ở khu vực phi chính thức. Các chương trình hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, trong đó xác định phụ nữ là đối tượng ưu tiên hỗ trợ, phụ nữ thuộc hộ nghèo, khó khăn, phụ nữ là người dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ sống tại địa bàn khó khăn, địa bàn chuyển đổi đất nông nghiệp.
Bên cạnh kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế và nguyên nhân đó là:
Nam giới có xu hướng làm việc phi chính thức nhiều hơn nữ giới (tỷ lệ làm việc phi chính thức năm 2021 là 65,0% ở nữ và 71,6% ở nam). Tuy nhiên, phụ nữ lại chiếm đa số trong nhóm lao động phi chính thức đặc biệt thiệt thòi, đó chính là lao động gia đình. Đây là việc làm dễ bị tổn thương, có thu nhập thấp, không ổn định, nguy cơ nghèo cao và bị hạn chế về phúc lợi xã hội. Nữ giới hạn chế khi chuyển từ công việc này sang công việc làm công ăn lương;
Cũng là lao động phi chính thức, nhưng phụ nữ ở nông thôn, tỉnh lẻ chịu thiệt thòi so với nam giới trong tiếp cận việc làm. Phần lớn nữ giới phải ở nhà để chăm sóc gia đình. Trong khi nam giới có cơ hội đi làm xa (tiếp cận cơ hội việc làm tốt hơn ở các khu công nghiệp, thành phố);
Thiếu một số quy định pháp luật gây trở ngại cho việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động việc làm ở khu vực phi chính thức. Luật Bình đẳng giới đã quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói chung, chưa có chính sách bù đắp thích hợp dành riêng cho phụ nữ theo từng nhóm, trong đó có nhóm lao động nữ khu vực phi chính thức như nhóm phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số;
Chưa nội luật hóa công ước quốc tế về việc làm tại nhà, lao động giúp việc gia đình, hướng tới việc làm bền vững, đặc biệt cho lao động nữ; Việt Nam có chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho người lao động phi chính thức nhưng mức đóng cao, phúc lợi hạn chế và trợ cấp quá thấp để thu hút họ, đặc biệt là chưa có chế độ thai sản để bảo vệ phụ nữ khỏi những thiệt hại về kinh tế, bất bình đẳng giới và rủi ro sức khỏe liên quan đến thai sản;
Các vấn đề pháp lý đối với lao động khu vực phi chính thức chưa được quy định cụ thể trong Bộ luật lao động, mà chủ yếu chỉ mang tính định hướng Chính quy định cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu dẫn đến trường hợp nhiều gia đình không làm lại giấy tờ: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu”.
Các hoạt động truyền thông bình đẳng giới đã được chú trọng thực hiện nhưng chưa mang tính thường xuyên. Các hoạt động truyền thông đang tập trung vào khoảng thời gian triển khai "Tháng hành động vì bình đẳng giới", còn trước và sau đó thì hầu như ít được chú trọng. Truyền thông là một quá trình cần được thực hiện liên tục để ghi ấn tượng đối với công chúng mục tiêu. Nếu các hoạt động truyền thông chỉ được triển khai theo thời vụ, sự kiện thì công chúng sẽ không còn sự hứng thú quan tâm, tìm hiểu và chủ động tham gia. Công tác thông tin tuyên truyền về Luật Đất đai chưa được quan tâm đúng mức; bản thân người dân, đặc biệt là phụ nữ cũng chưa hiểu về quy định này và ý nghĩa của nó.
Công tác truyền thông mới chỉ tập trung vào việc bình đẳng giữa nam và nữ trong đảm nhiệm công việc gia đình, việc phân chia tài sản cho con trai, con gái chưa được chú trọng, dẫn đến không ít trường hợp nữ giới không được nhận phần thừa kế đất đai, thiếu tư liệu sản xuất;
Sự thiếu hụt các cơ sở chăm sóc trẻ, hệ thống viện dưỡng lão, cơ sở hạ tầng như nước sinh hoạt hợp vệ sinh vẫn còn bất cập làm tăng gánh nặng chăm sóc gia đình của lao động nữ nói chung, lao động nữ ở khu vực phi chính thức nói riêng, hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động của lao động nữ; công việc tại nhà, công việc làm cho gia đình không hưởng lương được coi là một giải pháp thay thế khả thi cho công việc được trả lương bên ngoài gia đình;
Vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục nghề nghiệp đã được đề cập tới trong các khung chính sách quốc gia nhưng phụ nữ vẫn khó khăn trong việc tiếp cận với giáo dục nghề nghiệp để có được các cơ hội phát triển kỹ năng, khi chỉ dừng lại ở việc đào tạo thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn trao đổi khoa học kỹ thuật về phương thức sản xuất nông nghiệp chủ yếu đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng với các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, lao động đào tạo dưới 03 tháng vẫn không đủ điều kiện được cấp chứng chỉ, là lao động phổ thông. Điều này hạn chế khả năng chuyển đổi sang các ngành nghề đa dạng cho phụ nữ khu vực phi chính thức.
Định kiến giới là vấn đề chưa được giải quyết triệt để. Ngày nay, các vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giới trong xã hội Việt Nam vẫn còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Những quan điểm và hành vi gia trưởng có xu hướng hạ thấp vị trí của phụ nữ trong gia đình, không coi trọng đầy đủ vai trò và đóng góp của phụ nữ, coi trọng con trai hơn con gái. Nam giới ít chịu chia sẻ việc nhà và các trách nhiệm gia đình. Vai trò giới có xu hướng ràng buộc phụ nữ và trẻ em gái vào việc thực hiện công việc chăm sóc gia đình, dẫn đến trách nhiệm đối với gia đình của phụ nữ Việt Nam lớn hơn nam giới, mất nhiều thời gian cho công việc gia đình, đặc biệt ở các vùng kém phát triển. Mặc dù nhiều nỗ lực đã được thực hiện để cải thiện vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, các giá trị và quan niệm này vẫn là những rào cản chính đối với việc thực hiện công việc chăm sóc gia đình đối với phụ nữ và trẻ em gái, đặc biệt là khu vực nông thôn kém phát triển;
Nhưng đã phân tích ở trên, ở những vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, hạ tầng cơ sở kém phát triển, phong tục tập quán lạc hậu gây bất lợi cho cho các hoạt động giáo dục và đào tạo của phụ nữ và trẻ em gái, hoạt động sản xuất kinh doanh của lao động nữ. Do vậy tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động việc làm ở khu vực phi chính thức ở những vùng này thường sâu sắc hơn và tồn tại dai dẳng hơn ở các địa phương khác;
Về nhân lực: So với nhân lực ở các lĩnh vực khác, đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới còn rất thiếu về số lượng và hạn chế về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới, đặc biệt ở địa phương, cơ sở. Ở các bộ, ngành và địa phương, cán bộ bình đẳng giới chủ yếu là kiêm nhiệm, lại thường xuyên thay đổi do vậy hạn chế cả về thời gian dành cho công tác bình đẳng giới, cả về kiến thức, kỹ năng trong triển khai thực hiện và tham mưu công tác bình đẳng giới tại bộ, ngành, địa phương mình; Nhân lực có trách nhiệm cụ thể về quản lý lao động, việc làm phi chính thức chưa nhiều. Thêm vào đó, năng lực lồng ghép giới trong lao động, việc làm phi chính thức chưa cao.
Bản thân người lao động: Hạn chế về trình độ học vấn của phụ nữ kéo theo kém hiểu biết về quyền được đứng tên giấy tờ nhà đất, cũng như việc tiếp cận các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh. Nữ giới không sở hữu tài sản trên chính danh nghĩa của họ, từ đó dễ dàng bị từ chối vay vốn tại ngân hàng và tổ chức tín dụng. Điều này kéo theo nữ giới gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính do bị hạn chế tiếp cận các khoản vay hay hỗ trợ tài chính; Nữ giới gặp thuận lợi trong các công việc kinh doanh trực tuyến nhưng gặp khó khăn, thiếu an toàn trong các công việc trên nền tảng chia sẻ (tài xế, giao chuyển hàng hoá,..); Một số lao động nữ phi chính thức có tâm lý an phận thủ thường, thiếu bản lĩnh, ngại vươn ra xã hội, thiếu cơ hội giao tiếp, khởi nghiệp hay tiếp cận việc làm có vị thế tốt hơn.
Gánh nặng công việc gia đình: bên cạnh vai trò lao động tạo thu nhập, phụ nữ vẫn là người chăm sóc chính và chịu trách nhiệm phần lớn công việc nội trợ trong gia đình một cách không tương xứng. Điều này tước đi cơ hội trong học tập, sự nghiệp, tham gia các hoạt động xã hội của lao động nữ khu vực phi chính thức. Thiếu các khu công nghiệp gần nhà, thiếu hạ tầng trường, trạm, nhà trẻ, viện dưỡng lão cộng với tâm lý lui về hậu phương, gánh vác nhiệm vụ trông trẻ, chăm già khiến cho lao động nữ sẽ không chỉ ở lại trong khu vực phi chính thức mà còn chấp nhận những công việc có vị thế thấp hơn.
Năng lực lồng ghép giới trong lao động, việc làm ở khu vực phi chính thức còn thấp. Thiếu những quy định rõ ràng về khu vực phi chính thức, nội dung và trách nhiệm các bên trong quản lý nhà nước về lao động phi chính thức; Do chưa có sự quan tâm đủ lớn đối với khu vực phi chính thức nên thiếu các chương trình phối kết hợp của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy chính quyền địa phương nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong từng chương trình hành động liên quan trực tiếp đến lao động, việc làm phi chính thức; Thiếu các thống kê, báo cáo theo giới về lao động, việc làm, tạo việc làm, đào tạo nghề riêng đối với khu vực phi chính thức ở các địa phương.
Từ đánh giá thực trạng rút ra được hạn chế và nguyên nhân, nhóm nghiên cứu đã đề xuất giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở khu vực phi chính thức của Việt Nam trong tình hình mới, cụ thể:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành để bao trùm những người lao động phi chính thức, thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm: Tạo điều kiện giúp lao động ở khu vực phi chính thức chuyển dịch sang khu vực kinh tế chính thức bằng cách mở rộng phạm vi bảo vệ của pháp luật, tăng cường xây dựng khung thể chế về mức tối thiểu, tối đa mang tính bắt buộc (có sự trợ giúp của130 Chính phủ với các đối tượng yếu thế) và cung cấp gói lựa chọn linh hoạt cho người lao động.
Tăng cường lồng ghép giới trong hỗ trợ vốn, tiếp cận tín dụng: Hỗ trợ vốn/tiếp cận tín dụng là một công cụ hữu hiệu giúp lao động ở khu vực phi chính thức phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập. Sau khi tham gia dự án tín dụng, họ được nâng cao năng lực, trở nên tự tin hơn...do biết cách sử dụng vốn để làm ăn, tăng thu nhập cho gia đình. Lồng ghép giới trong hỗ trợ vốn, tiếp cận tín dụng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy bình đẳng giới ở khu vực phi chính thức.
Tăng cường truyền thông, giáo dục về bình đẳng giới ở địa phương, hướng
tới khu vực phi chính thức: Tăng cường tuyên truyền giáo dục bình đẳng giới về trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình, thay đổi định kiến giới. Cần phải thiết kế và thường xuyên thực hiện truyền thông thay đổi nhận thức về trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình giữa các thành viên trong gia đình. Cần phải nhấn mạnh công việc gia đình lấy nhiều thời gian, sức khỏe của người thực hiện và là trách nhiệm của các thành viên trong gia đình (không phân biệt nam nữ) có khả năng thực hiện, không phải là công việc dành riêng cho nữ giới. Chương trình truyền thông góp phần vào việc nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi, thu hút sự đồng thuận của nam giới và nữ giới trong thực hiện công việc gia đình.
Phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng giới để giảm bớt gánh nặng việc làm không được trả công: Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong giảm gánh nặng chăm sóc cho phụ nữ và trẻ em gái, tăng thời gian cho lao động và học tập, góp phần thay đổi vị thế việc làm cho phụ nữ. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển hạ tầng cơ sở, nhất là ở các vùng kém phát triển, vùng dân tộc thiểu số, vùng biển có đáp ứng giới.
Tăng cường hỗ trợ theo giới cho khu vực phi chính thức: Thúc đẩy cơ chế đại diện tiếng nói và bảo vệ người lao động trong KVPCT. Cần tăng cường hoạt động của các nghiệp đoàn, thu hút sự tham gia của lao động PCT tham gia vào các nghiệp đoàn. Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền của những thành viên tham gia. Bên cạnh đó, cần có chính sách thúc đẩy sự tham gia chủ động của chính quyền địa phương trong quản lý, quan tâm và bảo vệ lao động phi chính thức, đặc biệt cần có sự hoạt động đắc lực của các chi hội phụ nữ thôn, xóm, phường, xã trong đại diện, bảo vệ nữ lao động phi chính thức.
Nâng cao năng lực cho lao động phi chính thức, đào tạo và phát triển theo hướng nhạy cảm giới và phù hợp với sự đa dạng về đặc thù nhu cầu và hoàn cảnh của lao động phi chính thức: Tăng cường hỗ trợ cho NLĐPCT tham gia các chương trình đào tạo. Sự hỗ trợ không chỉ nằm ở việc cung cấp chương trình đào tạo miễn phí, mà còn nằm ở sự hỗ trợ cho tình trạng không có thu nhập trong những ngày tham gia đào tạo hoặc những hỗ trợ san sẻ gánh nặng công việc gia đình như hỗ trợ trông trẻ khi tham gia đào tạo, hỗ trợ bố trí giờ học hợp lý, địa điểm học “tận chân” cho các nhóm đối tượng LĐPCT cần được đào tạo.
Nâng cao năng lực đội ngũ nhân sự làm công tác bình đẳng giới: Vai trò của cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở rất quan trọng trong việc đảm bảo có hiệu quả trong thực thi chính sách pháp luật của Đảng Nhà nước quả trong các lĩnh vực liên quan đến lao động việc làm ở khu vực phi chính thức như giáo dục nghề nghiệp, hỗ trợ vay vốn/tín dụng,… có tính đến yếu tố giới, đảm bảo cho phụ nữ không bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp về lồng ghép giới vào các kế hoạch phát triển của địa phương với các chỉ tiêu và chỉ số nhạy cảm giới cụ thể - tạo cơ sở để lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực của địa phương cho các lĩnh vực trên.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu mô hình đô thị trung hóa các-bon; đánh giá thí điểm cho 02 đô thị ở Việt... (20/03/2026)
- Xây dựng mô hình nuôi lươn đồng Monopterus albus (Zuiew, 1793) thương phẩm trong... (18/03/2026)
- Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống sò huyết Anadara granosa trong ao (16/03/2026)
- Ứng dụng giải pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh... (13/03/2026)
- Nghiên cứu, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may... (09/03/2026)
