Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 437 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu mô hình đô thị trung hóa các-bon; đánh giá thí điểm cho 02 đô thị ở Việt Nam (20/03/2026)
Là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề do biến đổi khí hậu, mặc dù còn nhiều khó khăn về nguồn lực, nhưng Việt Nam luôn thể hiện trách nhiệm, chủ động thực hiện các cam kết quốc tế. Nhiều chính sách, giải pháp, nghiên cứu và các hành động thiết thực ứng phó với biến đổi khí hậu đã được xây dựng và triển khai đồng bộ. ăm 2020, Việt Nam là một trong 20 quốc gia đầu tiên hoàn thành rà soát, cập nhật đóng góp do quốc gia tự quyết định theo yêu cầu của COP21; đồng thời điều chỉnh gia tăng đáng kể đóng góp về giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội tới năm 2030 của đất nước.
Tại địa phương, UBND TP. Đà Nẵng đã ban hành Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về BĐKH về giảm phát thải KNK tập trung vào thực hiện kiểm kê KNK, đề xuất giảm nhẹ phát thải KNK, các hoạt động giảm nhẹ KNK khác. Tuy nhiên từ đó đến nay, thành phố chưa đưa ra kế hoạch thực hiện mới sau 2020. Bên cạnh đó, UBND TP. HCM ban hành Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu theo 2 giai đoạn (giai đoạn năm 2020 với 17 chương trình, dự án; giai đoạn từ 2021 đến năm 2030 với 39 chương trình). Phát triển “đô thị các-bon thấp” tiến tới trung hòa các-bon là một biện pháp quan trọng để ngăn chặn lượng khí thải các-bon dioxide.
Hiện nay, việc khống chế thải khí gây hiệu ứng nhà kính để thúc đẩy phát triển thành phố trung hòa các-bon là một biện pháp quan trọng để ngăn chặn lượng khí thải các-bon dioxide và các dẫn xuất các-bon sinh ra từ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt đô thị, là trách nhiệm chung của nhân loại, trong đó có Việt Nam. Việc giảm thiểu tiêu hao năng lượng và phát thải KNK, giảm thiểu hiện tượng ấm lên của khí hậu toàn cầu, giảm thiểu triệt tiêu các ô nhiễm, góp phần cải thiện môi trường sinh thái mang đến cơ hội, đời sống tốt đẹp cho cư dân đặc biệt vùng đô thị là điều mong muốn của một thành phố trung hòa các-bon và phát triển bền vững. Trong xu thế phát triển đô thị trung hòa các-bon thế giới, Việt Nam cũng được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến, và cũng đang chú trọng phát triển đô thị các-bon với phương thức tăng trưởng kinh tế đô thị, nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế đô thị, phát triển bền vững của nền kinh tế đô thị thậm chí phát triển toàn diện đô thị mang đến động lực thúc đẩy mạnh mẽ. Trong quá trình phát triển kinh tế dần giảm thiểu phát thải của khí CO2, công nghiệp đô thị truyền thống, hướng phát triển phát thải các-bon cao chuyển hướng tới nền công nghiệp phát thải các-bon thấp, cũng như tiêu dùng đô thị đang hướng phát thải các-bon cao chuyển sang hướng tiêu dùng đô thị tự các-bon thấp.

Mô phỏng hiện trạng thoát nước tại Phường Đa Kao, quận 1.
Mảng xanh đô thị là phần thiết yếu giúp điều hòa khí hậu, cải thiện lượng CO2 có trong không khí góp phần giảm thiểu phát thải KNK và tạo cảnh quan đô thị. Trong nghiên cứu, xây dựng mô hình không gian xanh (KgX) nhằm giảm nhẹ phát thải KNK trong đô thị, mã số RD23-19, giai đoạn 2019-2020, cho thấy tổng lượng phát thải CO2 và lượng hấp thu CO2 tại các khu vực nghiên cứu ở TP. HCM và Đà Nẵng dựa vào cây xanh chênh lệch nhiều so với lượng phát thải KNK. Nhìn chung, mức độ cân bằng CO2 chênh lệch nghiêng về phía tổng lượng CO2 phát thải (hay) lượng phát thải KNK (CO2) cao hơn rất nhiều so với tổng lượng hấp thu CO2. Đứng trước thực trạng trên Trường Đại học Văn Lang tiến hành triển khai nhiệm vụ “Nghiên cứu mô hình đô thị trung hóa các-bon; đánh giá thí điểm cho 02 đô thị ở Việt Nam” do TS.KTS Ngô Minh Hùng làm chủ nhiệm.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình đô thị trung hòa các -bon tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, kết quả thu được như sau:
Lịch sử, hiện trạng phát triển đô thị TP. HCM và TP. Đà Nẵng đã được xem xét và đánh giá một cách khá tổng thể. Tình hình phát thải KNK, các-bon của 2 thành phố được cập nhật vào năm 2013, 2016, 2018, 2021 cho thấy tổng lượng phát thải từ các nguồn năng lượng, giao thông, chất thải, hoạt động công nghiệp, nông-lâm nghiệp. Trong đó, nguồn phát thải từ năng lượng cố định, giao thông chiếm tỷ lệ lớn và chính yếu. Kế đến phát thải từ CTR, khu vực dân sinh.
Từ năm 2009 đến nay, TP. HCM đã thực hiện nhiều nội dung (chương trình BĐKH, kiểm kê KNK, cây xanh công động đô thị, trồng 1 triệu cây xanh, phát triển hệ thống chiếu sáng đô thị, phát triển nhà ở, hành động ứng phó với BĐKH, sử dụng năng lượng tiết kiệm, thành phố phát thải các-bon thấp…). Bên cạnh đó, TP. Đà Nẵng từ năm 2010 đã xác định lượng phát thải, trong đó giao thông chiếm 46%, điện năng chiếm 31%. Các nguồn phát thải được cập nhật đến năm 2020. Từ đánh giá hiện trạng, mô hình tính toán và công cụ ExSS, LEAP – EFFECT đã được nghiên cứu, kế thừa và áp dụng cho 2 thành phố. Trong lĩnh vực ngành xây dựng, phương pháp xử lý chồng lớp, tiếp cận “bể chứa các-bon” tự nhiên, tăng cường KgX, cây xanh/tăng độ che phủ vào năm 2030 và 2050 được sử dụng cho toàn thành phố và cụ thể khu vực khảo sát. Trên cơ sở phân tích, kết quả tính toán, mô hình tính toán trung hòa các-bon tại khu vực nghiên cứu, mô hình thí điểm cho TP. HCM và TP. Đà Nẵng, mô hình thí điểm trung hòa các-bon bằng giải pháp chung tổng thể, phương pháp KgX cho các khu vực khảo sát và nghiên cứu, kỹ thuật phát triển đô thị trung hòa các-bon: KGX giảm phát thải các-bon và chính sách về đô thị trung hòa các-bon được nghiên cứu và trình bày chi tiết. Cuối cùng, hướng dẫn phát triển đô thị trung hòa các-bon cho TP. HCM và Đà Nẵng cũng được nghiên cứu và chia thành 4 giai đoạn (tiếp cận, giảm cácbon, khử các-bon, thích ứng/thích nghi/trung hòa các-bon).
Từ đánh giá mô hình mô hình đô thị trung hòa các -bon tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, nhóm nghiên cứu đề xuất khung tiêu chí xây dựng và phát triển đô thị trung hòa các-bon ở Việt Nam, cụ thể:
Từ nghiên cứu về các bộ tiêu chí về phát triển bền vững, đô thị tăng trưởng xanh, đô thị xanh, chương trình môi trường của UNEP, chỉ tiêu phát triển đô thị quốc gia, khung tiêu chí xây dựng và phát triển đô thị trung hòa các-bon gồm: 9 nhóm tiêu chí. Các tiêu chí này được xây dựng nhằm cung cấp cho các đô thị một hướng xây dựng và phát triển các hoạt động “trung hòa các-bon” nhằm: Cụ thể hóa nhiệm vụ số 10 và 13, Chương trình 4, Phụ lục II Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 25/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030; Từng bước cụ thể hóa cam kết của Việt Nam tại COP26; Xây dựng chiến lược và phát triển đô thị trung hòa các-bon; Trở thành đô thị bền vững hơn.
Khung tiêu chí hướng dẫn lập kế hoạch xây dựng chiến lược và thực hiện phát triển đô thị trung hòa các-bon và được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý Nhà nước, giảng dạy trong lĩnh vực liên quan hoặc đang có kế hoạch phát triển một dự án về đô thị trung hòa các-bon. Hệ khung này chỉ ra điểm khởi đầu và các chiến lược hướng tới phát triển đô thị trung hòa các-bon, cũng như quá trình thực hiện và đưa các chiến lược này vào thực tiễn.
Cấu trúc khung tiêu chí: 09 nhóm như sau: Phát triển, quy hoạch đô thị; Hạ tầng giao thông đô thị; Công trình xây dựng đô thị; Môi trường đô thị, Năng lượng đô thị; Hạ tầng đô thị; Dịch vụ đô thị; Chính quyền và quản lý đô thị; Văn hóa, lối sống xanh, tiêu dùng đô thị xanh.
Các nhóm tiêu chí chiến lược: 87 chỉ số: Khung tiêu chí xây dựng chiến lược và phát triển đô thị trung hòa các-bon làm cơ sở gợi ý cho các cơ quan quản lý, địa phương đưa ra những chiến lược. Qua các nhóm tiêu chí, các chỉ số trong từng nhóm tiêu chí được chi tiết hóa và vận dụng và lựa chọn một cách linh hoạt để phù hợp với từng đô thị theo đặc điểm khu vực, vùng miền. Do đó, các nhóm chiến lược sau đây được chỉ ra để địa phương linh hoạt trong việc đưa ra giải pháp cần thiết.
Về một số tiêu chí áp dụng cho đô thị phát thải các-bon thấp và trung hòa các-bon thì có một số nguyên tắc cần lưu ý trước khi áp dụng bộ tiêu chí. Bộ tiêu chí mang tính định hướng xây dựng chiến lược và phát triển đô thị trung hòa các-bon nhất có thể theo lộ trình. Mức độ phát thải các-bon thấp hay trung hòa các-bon là mục tiêu đặt ra bởi các nhà quản trị đô thị và chính sách gia, quy hoạch gia cho thành phố của mình nhằm đạt các cam kết đặt ra trong các năm tới (hàng năm/ngắn-trung-dài hạn) đó là cắt giảm phát thải các-bon trong một giai đoạn phát triển đô thị nhất định đến năm 2050.
Như vậy, Đô thị trung hòa các-bon đã chỉ ra khả năng cân bằng giữa lượng phát thải và hấp thụ KNK hoặc giảm phát thải KNK theo giai đoạn nhất định giữa khu vực nội và ngoại thị. Gần đây, thế giới và các học giả đã đưa các hướng giải pháp nhằm giảm phát thải KNK bằng 0 từ sử dụng nhiên liệu, vật liệu, năng lượng; các hoạt động gây ra phát thải và được phân định theo 3 phạm vi (1-3). Đô thị các-bon thấp được đề cập như một bước cần đạt được trước khi đô thị có khả năng tự “trung hòa” và “không cácbon”.
Trước xu hướng trung hòa các-bon, các thành phố Châu Âu, Châu Á đã đặt mục tiêu giảm các-bon trong giai đoạn nhất định cùng với kế hoạch, lộ trình, hành động, giải pháp cụ thể. Các bộ chỉ tiêu, nguyên tắc; rà soát các văn bản/chính sách hiện hành có liên quan đã được rà soát, đúc kết và kế thừa.
Tuy nhiên, TP. HCM và TP. Đà Nẵng, với nhiều nỗ lực phát triển đô thị tích cực những năm qua, vẫn chưa sớm triển khai hướng đô thị trên do hệ thống văn bản, chính sách, quy định chưa hoàn chỉnh, đồng bộ và thiếu trong ngành xây dựng.
Tình hình phát thải KNK, các-bon của 2 thành phố được cập nhật vào năm 2013, 2016, 2018, 2021 cho thấy tổng lượng phát thải từ các nguồn năng lượng, giao thông, chất thải, hoạt động công nghiệp, nông-lâm nghiệp. Trong đó, nguồn phát thải từ năng lượng cố định, giao thông chiếm tỷ lệ lớn và chính yếu. Kế đến là phát thải từ CTR và khu vực dân sinh.
Mô hình tính toán và công cụ ExSS, LEAP – EFFECT đã được nghiên cứu, kế thừa và áp dụng cho 2 thành phố. Trong lĩnh vực ngành xây dựng, phương pháp xử lý chổng lớp, tiếp cận “bể chứa các-bon” tự nhiên, tăng cường KgX, cây xanh/tăng độ che phủ vào năm 2030 và 2050 được sử dụng cho toàn thành phố và cụ thể khu vực khảo sát. Trên cơ sở phân tích, kết quả tính toán, khung giải pháp kỹ thuật giảm/trung hòa các-bon được đưa ra cho các khu vực khảo sát. Hướng dẫn phát triển đô thị trung hòa các-bon cho TP. HCM được nghiên cứu. Cuối cùng, khung tiêu chí xây dựng và phát triển đô thị trung hòa các-bon đã được thực hiện cho sự phát triển, đô thị hóa ở Việt Nam.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Xây dựng mô hình nuôi lươn đồng Monopterus albus (Zuiew, 1793) thương phẩm trong... (18/03/2026)
- Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống sò huyết Anadara granosa trong ao (16/03/2026)
- Ứng dụng giải pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh... (13/03/2026)
- Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở khu vực phi chính thức... (11/03/2026)
- Nghiên cứu, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may... (09/03/2026)
