Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 11514
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu phục tráng giống khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP trên địa bàn thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) (12/01/2026)

Giống khoai sọ Miễu Sơn – Thái Học là nguồn gen bản địa quý của thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, được người dân duy trì qua nhiều thế hệ bằng phương thức tự để giống. Vùng phân bố của giống chủ yếu tại khu Miễu Sơn, phường Thái Học (nay là phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng) có điều kiện đất thịt nhẹ, giàu mùn và ẩm độ cao, phù hợp với sinh thái của cây khoai sọ. Theo điều tra của nhóm cán bộ, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm cho thấy, giống có mức độ thích nghi tốt với điều kiện địa phương, góp phần hình thành đặc trưng sản phẩm lâu đời của vùng. Tuy nhiên, thực trạng giống hiện nay đang suy giảm đáng kể. Do duy trì giống bằng cách để lại củ qua nhiều năm, giống có dấu hiệu thoái hóa, lẫn tạp và giảm độ thuần. Chất lượng khoai sọ thương phẩm giữa các hộ không đồng nhất, kích thước và hình dạng củ biến động mạnh. Việc thiếu hệ thống giống gốc và giống xác nhận khiến quá trình sản xuất thiếu tính ổn định, khó mở rộng quy mô hàng hóa và chưa đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc trong chương trình OCOP. Nếu không được phục tráng và chuẩn hóa, giống có nguy cơ mất dần các đặc tính đặc sản vốn là giá trị cốt lõi của sản phẩm. Từ những phân tích trên, có thể khẳng định việc triển khai đề tài Nghiên cứu phục tráng giống khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP trên địa bàn thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) là yêu cầu cấp thiết nhằm khôi phục độ thuần, đảm bảo chất lượng đặc sản, ổn định năng suất và tạo nền tảng khoa học - kỹ thuật cho việc phát triển sản phẩm OCOP đặc trưng của tỉnh Hải Dương.Đề tài do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chủ trì thực hiện, KS. Nguyễn Thị Minh làm chủ nhiệm.

Nghiên cứu tiến hành điều tra 150 hộ trồng khoai sọ tại Thái Học (Chí Linh), qua đó đánh giá hiện trạng sản xuất khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học. Kết quả khảo sát cho thấy, các giai đoạn sinh trưởng của giống được nông hộ ghi nhận khá thống nhất, với tỷ lệ đồng thuận cao (88,7-95,3%). Giống có thời gian từ trồng đến chín sinh lý, thu hoạch dài (160-210 ngày), các giai đoạn sinh trưởng phân hóa rõ rệt. Giai đoạn sinh trưởng thân lá (30-90 ngày sau trồng) được ghi nhận cao nhất (95,3%), phản ánh khả năng phát triển mạnh và dễ quan sát trong thực tếsản xuất. Giai đoạn mọc mầm – ra lá và chín sinh lý – thu hoạch đề có trên 90% hộ ghi nhận, cho thấy đặc điểm sinh trưởng ổn định và phù hợp với kinh nghiệm canh tác của người dân địa phương. Giai đoạn hình thành và nuôi củ tuy có tỷ lệ ghi nhận thấp hơn (88,7%) nhưng vẫn thể hiện rõ tính mẫn cảm với điều kiện thoát nước, là yếu tố kỹ thuật cần đặc biệt lưu ý trong canh tác giống khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học. Diện tích trồng khoai sọ năm 2023 là 6,8 ha, theo ghi nhận của tổ hợp tác sản xuất và tiêu thụ khoai sọ Thái Học đã giảm khoảng 50% so với giai đoạn 2017–2019. Nguyên nhân chính là sản xuất phân tán, quy mô nhỏ lẻ, thiếu vùng nguyên liệu ổn định để liên kết tiêu thụ. Năng suất chính vụ đạt 260,7 kg/sào (tương đương 7,24 tấn/ha), cao hơn khoảng 50% so với trái vụ (125,5 kg/sào). Chênh lệch này chủ yếu do điều kiện sinh thái thuận lợi ở chính vụ, trong khi trái vụ thường chịu ảnh hưởng của khô hạn, nắng nóng hoặc mưa bất thường. Đồng thời, mức đầu tư và chăm sóc ở chính vụ cao hơn, góp phần nâng cao năng suất. Giá bán trái vụ cao hơn chính vụ (23.000 đồng/kg so với 18.000 đồng/kg). Tuy nhiên, mức tăng giá không bù được năng suất giảm, dẫn đến hiệu quả sản xuất trái vụ thấp. Đây là cơ sở thực tiễn để đề tài ưu tiên giải pháp ổn định năng suất, giảm tỷ lệ thối hỏng, nâng chất lượng bảo quản thay vì mở rộng trái vụ tự phát. Về thu hoạch và bảo quản giống, nghiên cứu cho thấy, phần lớn các hộ trồng khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học đã có kinh nghiệm thực tiễn trong việc xác định thời điểm thu hoạch. Cụ thể, 83,3% số hộ cho biết căn cứ vào dấu hiệu sinh trưởng trên đồng ruộng, khi cây chỉ còn 2–3 lá/cây thì tiến hành thu hoạch, nhằm đảm bảo chất lượng củ, đặc biệt là củ giống. Đây là dấu hiệu phù hợp với đặc điểm sinh lý của cây khoai sọ, cho thấy người dân đã tích lũy được kinh nghiệm sản xuất phù hợp với điều kiện canh tác địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn 16,7% số hộ không dựa vào các căn cứ sinh trưởng của cây để quyết định thời điểm thu hoạch mà chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng. Việc thu hoạch không đúng thời điểm sinh lý có thể làmgiảm chất lượng và sức sống của củ giống, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm trong các vụ tiếp theo. Đối với công tác bảo quản khoai sọ sau thu hoạch, đa số hộ dân (75%) thực hiện bảo quản theo kinh nghiệm truyền thống, trong khi tỷ lệ hộ áp dụng các biện pháp bảo quản khác còn hạn chế. Thực trạng này cho thấy công tác bảo quản hiện nay chưa được chuẩn hóa, tiềm ẩn nguy cơ làm giảm tỷ lệ nảy mầm, tăng tỷ lệ thối hỏng trong quá trình lưu trữ, đặc biệt trong điều kiện thời tiết bất lợi. Như vậy, kết quả khảo sát phản ánh rằng kỹ thuật thu hoạch và bảo quản khoai sọ Miễu Sơn – Thái Học hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân, chưa có quy trình kỹ thuật thống nhất và được hướng dẫn cụ thể. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy trình thu hoạch và bảo quản, góp phần nâng cao chất lượng củ giống, ổn định năng suất và phục vụ hiệu quả cho công tác bảo tồn, phát triển giống khoai sọ Miễu Sơn – Thái Học trong thời gian tới.

Nghiên cứu cũng cho thấy, sản xuất khoai sọ chủ yếu quy mô nhỏ lẻ, tiêu thụ theo hình thức bán lẻ hàng ngày (88,7%), thiếu liên kết chuỗi, thiếu kỹ thuật bảo quản nên tỷ lệ hao hụt giống cao. Kết quả khảo sát là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc định hướng giải pháp kỹ thuật và tổ chức sản xuất khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học tại địa phương. Nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện bản mô tả giống Khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học với 68/68 tính trạng được chuẩn hóa theo phiếu mô tả “Phiếu mô tả, đánh giá nguồn gen khoai môn sọ” của Trung tâm Tài nguyên Thực vật. Bản mô tả đã bổ sung đầy đủ các đặc điểm hình thái, nông sinh học và một số chỉ tiêu chất lượng, làm rõ các dấu hiệu đặc trưng của giống. Đây là căn cứ khoa học quan trọng phục vụ phân loại, bảo tồn, lưu giữ nguồn gen của giống.

Khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học.

Qúa trình nghiên cứu, qua các bước phục tráng liên tiếp C0 – C1 – C2 (chọn lọc theo định tính thân, lá, củ; định lượng và phân tích chất lượng) dựa trên cơ sở kết quả hoàn thiện phiếu mô tả giống khoai sọ Miễu Sơn – Thái Học. Kết quả của đề tài đã xác định được 20 dòng khoai sọ Miễu Sơn – Thái Học (C1, C2, C3, C9, C12, C17, C18, C23, C25, C26, C29, C32, C34, C35, C36, C39, C41, C42, C46, C49) là nhóm dòng đại diện phục tráng, đáp ứng yêu cầu về độ thuần, tính ổn định và tính đặc trưng giống, đủ điều kiện làm nguồn vật liệu cho giai đoạn nhân giống và đánh giá mở rộng. 20 dòng ở thế hệ C2 có thời gian sinh trưởng khoảng 180 ngày, chiều cao cây trung bình 50-100 cm, tỷ lệ mọc mầm đạt 100% sau 30 ngày trồng, đạt trung bình khoảng 1.040 g/khóm, nhiễm nhẹ sâu bệnh hại chính. Từ 20 dòng thế hệ C2 này, đề tài đã thu được 5.400 kg củ giống phục tráng đạt tiêu chuẩn, trong đó 4.200 kg sử dụng cho các nghiên cứu về hoàn thiện quy trình canh tác, quy trình kỹ thuật sản xuất giống và quy trình bảo quản; 1.200 kg được lưu giữ tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm làm vật liệu cho các thí nghiệm nghiên cứu tiếp theo của đề tài.

Sau khi phục tráng giống, đề tài xây dựng thành công 03ha mô hình sản xuất thương phẩm khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học với sự tham gia của 50 hộ dân tại Thái Học, Chí Linh, Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng). Năng suất đạt 15,83 tấn/ha, cao hơn 29% so với giống khoai sọ chưa phục tráng và tăng hiệu quả kinh tế 42,95%. Nghiên cứu cũng đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất thương phẩm khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học (mật độ 14.500 khóm/ha; mức phân bón 100-60-100 kg N - PO - KO kết hợp phân hữu cơ) cho hiệu quả vượt trội so với tập quán địa phương. Quy trình giúp tăng năng suất lên 16,5 tấn/ha, nâng tỷ lệ củ thương phẩm đạt 98%, đồng thời hiệu quả kinh tế tăng thêm 16,70 triệu đồng/ha với mức chi phí tăng không đáng kể. Đã tiến hành chọn được 01 giải pháp bảo quản củ giống bằng thùng xốp + cát sạch với mức hao hụt sau 120 ngày bảo quản 13,0%, giảm 73,7% so với phương pháp truyền thống của người dân, đồng thời tỷ lệ này mầm đạt 94% sau 120 ngày bảo quản, cao hơn 15,5% về tỷ lệ này mầm, và 37,3% tỷ lệ này mầm so với tổng số của ban đầu. Đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học với mật độ 16.500 khóm/ha; mức phân bón 100N - 60PO - 100KO kết hợp phân chuồng năng suất đạt 16,7 tấn/ha, tỷ lệ củ giống đạt 87%, tạo quần thể củ đồng đều, sức sống cao. Hiệu quả kinh tế tăng thêm 52,57 triệu đồng/ha. Đồng thời, bàn giao 2.000 kg củ giống cho tổ hợp tác nông dân sản xuất và tiêu thụ khoai sọ Thái Học.
Kết quả nghiên cứu trên đã góp phần bảo tồn và chuẩn hóa nguồn gen khoai sọ bản địa Miễu Sơn - Thái Học thông qua phục tráng giống và hoàn thiện bản mô tả giống theo hệ thống chỉ tiêu thống nhất. Kết quả nghiên cứu làm rõ các đặc điểm hình thái, nông sinh học, năng suất và khẳ năng thích ứng của giống trong điều kiện địa phương, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, chọn giống và lưu giữ nguồn gen cây trồng. Đề tài đã tạo được nguồn giống khoai sọ Miễu Sơn - Thái Học đồng đều, sinh trưởng khỏe, năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với giống đang canh tác. Các quy trình kỹ thuật sản xuất giống, sản xuất thương phẩm và bảo quản củ giống được hoàn thiện, có tính khả thi và khả năng nhận rộng, góp phần phát triển sản xuất khoai sọ, nâng cao thu nhập cho người dân và duy trì thương hiệu sản phẩm địa phương.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.