Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 26779
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu sử dụng thức ăn bổ sung thảo dược trong chăn nuôi gà đẻ để sản xuất “trứng gà thảo dược” trên địa bàn tỉnh Hải Dương (26/01/2026)

Trong những năm vừa qua, ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ. Năm 2024, sản lượng trứng gà cả nước đạt 13,56 tỷ quả, tăng 17,20% so với năm 2022 (Tổng cục Thống kê, 2025). Trong xu thế phát triển chung của cả nước, ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tại tỉnh Hải Dương cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thập kỷ vừa qua. Năm 2024, tổng đàn gà đẻ trứng của tỉnh đạt 1,28 triệu con, sản lượng trứng đạt 241,80 triệu quả, tăng 18,9% so với năm 2022 (203,39 triệu quả) (Thống kê chăn nuôi, 2025). Hiện nay, chăn nuôi gà đẻ trứng theo hướng công nghiệp ngày càng phát triển trong tỉnh; đàn gà đẻ công nghiệp chiếm 58,42% tổng đàn, sản lượng trứng công nghiệp chiếm tới 65,27% tổng sản lượng trứng toàn tỉnh (Thống kê chăn nuôi, 2025). Mô hình chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn đã góp phần nâng cao năng suất trứng, song cũng đặt ra nhiều thách thức như ô nhiễm mùi hôi, nguy cơ tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng trứng và chất lượng thịt gà đẻ loại.

Theo Yamaguchi và cộng sự (2017), khi đánh giá tồn dư kháng sinh trong trứng gà của 11 công ty phân phối tại các siêu thị ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tác giả phát hiện 14,41% mẫu trứng có chứa kháng sinh. Tổng cộng 8 loại hợp chất được phát hiện gồm: enrofloxacin, ciprofloxacin, norfloxacin, sulfadimethoxine, sulfamethazine, sulfamonomethoxine, tilmicosin và trimethoprim. Đồng thời, có 18,2% số công ty thường xuyên cung cấp trứng có tồn dư kháng sinh và tỷ lệ mẫu phát hiện tồn dư kháng sinh dao động từ 56 - 60%. Bên cạnh vấn đề kháng sinh, hàm lượng cholesterol trong trứng cũng là mối quan ngại của người tiêu dùng. Một quả trứng có khối lượng 50 g chứa khoảng 186 mg cholesterol, mức được xem là tương đối cao, đồng thời thịt gà mái thải loại hết chu kỳ sinh sản có tới 72 mg cholesterol/100 g (cao hơn gần 3 lần so với gà thịt thương phẩm). Trong bối cảnh đó, ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu chăn nuôi của tỉnh Hải Dương. Hằng năm, ngành này cung cấp ra thị trường hơn 241,80 triệu quả trứng và hơn 1 triệu con gà đẻ loại, tương đương với khoảng 2.000 tấn gà thịt (Thống kê chăn nuôi, 2025). Một số nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến việc giảm cholesterol trứng bằng sử dụng một số loại thảo dược vào khẩu phần ăn giúp tăng sức đề kháng của gà, cải thiện chất lượng trứng. Bên cạnh đó, hiện nay thông tin về sử dụng thảo dược trong chăn nuôi xuất hiện phổ biến trên các nguồn trực tuyến, tuy nhiên phần lớn các sản phẩm thảo dược thương mại trên thị trường được chiết xuất từ thảo dược ngoại nhập hoặc từ các loài thảo dược trong nước có sinh khối thấp, khó khai thác, dẫn đến giá thành cao. Các loại thảo dược như dịch chiết cỏ mần trầu, cỏ mực, cây cam thảo hay bồ công anh vì vậy khó được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi quy mô lớn. Đa số các sản phẩm thảo dược hướng tới mục tiêu giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Hơn nữa các nghiên cứu khác thường chỉ sử dụng một loại thảo dược bổ sung vào khẩu phần cho nên có thể chưa mang lại được hiệu quả cao khi bổ sung. Do vậy, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện đề tài Nghiên cứu sử dụng thức ăn bổ sung thảo dược trong chăn nuôi gà đẻ để sản xuất “trứng gà thảo dược” trên địa bàn tỉnh Hải Dương, GS.TS. Vũ Đình Tôn làm chủ nhiệm. Đề tài hướng tới tiếp cận việc sử dụng các loại thảo dược có sinh khối cao, phân bố phổ biến tại Việt Nam, đồng thởi sử dụng hỗn hợp thảo dược do sử dụng đồng thời một số loại với nhau cùng với sử dụng khẩu phần thức ăn tự phối trộn để đánh giá tác dụng của chúng khi bổ sung cho gà đẻ trứng thương phẩm. Giải pháp này không chỉ góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn thức ăn công nghiệp mà còn có thể cải thiện chất lượng trứng cũng như chất lượng thịt gà đẻ sau khi kết thúc chu kỳ sinh sản.

Thực hiện mô hình tại trang trại chăn nuôi ông Đào Hữu Thuân.

Nghiên cứu thu thập thông tin về chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương và lựa chọn 3 cơ sở chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tham gia đề tài. Nghiên cứu xây dựng công thức thức ăn có bổ sung thảo dược trong chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm theo hướng hạ cholesterol với việc thử nghiệm thức ăn bổ sung thảo dược dạng bột gồm đơn kim, hồi và quế với các mức bổ sung 1%, 1,5% và 2% hoặc 0,5% bột quế vào khẩu phần ăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm. Bố trí thử nghiệm trên 3 cơ sở chăn nuôi với 7 công thức thức ăn, mỗi công thức 72 con gà đẻ trứng thương phẩm Ai Cập lai, tổng số gà thử nghiệm là 1.512 con. Trong đó có 2 lô đối chứng không bổ sung thảo dược gồm lô sử dụng thức ăn công nghiệp và lô khẩu phần cơ sở (KPCS). Các lô bổ sung thảo dược gồm lô thức ăn công nghiệp bổ sung 2% thảo dược (TD), lô khẩu phần cơ sở bổ sung 1% thảo dược; lô khẩu phần cơ sở bổ sung 1,5% thảo dược, lô khẩu phần cơ sở bổ sung 2% thảo dược và lô khẩu phần cơ sở bổ sung 0,5% bột quế. Thử nghiệm trên 3 cơ sở chăn nuôi, mỗi cơ sở chăn nuôi chọn 504 gà để trứng Ai Cập trắng đồng đều về tuổi, gà khỏe mạnh. Gà được chia ngẫu nhiên vào các lô thử nghiệm, mỗi lô có 24 con gà được nuôi trong 6 ô lồng, mỗi ô lồng 4 con và được lắp lại 3 lần trên mỗi cơ sở chăn nuôi. Toàn bộ gà được nuôi trong cùng điều kiện chuồng và quy trình chăm sóc. Từ 30 tuần tuổi, gà được cho ăn bằng công thức thức ăn khác nhau theo khẩu phần thí nghiệm, cho ăn 2 lần/ngày sáng và chiều, lượng thức ăn cho ăn 0,11 kg/con/ngày.

Phân tích thành phần và giá trị dinh dưỡng của công thức thức ăn cho thấy các chỉ tiêu dinh dưỡng đều đạt và đáp ứng yêu cầu TCVN 2265:2020 – Thức ăn chăn nuôi cho gà đẻ trứng thương phẩm. Cụ thể, năng lượng trao đổi của các công thức đều không thấp hơn 1.750 Kcal/kg, hàm lượng protein thô đạt từ 16% trở lên và hàm lượng xơ thô không vượt quá 5%. Điều này cho thấy khẩu phần thí nghiệm được phối trộn hợp lý, đảm bảo giá trị dinh dưỡng cần thiết cho gà đẻ trứng thương phẩm. Nghiên cứu cũng cho thấy khẩu phần cơ sở có giá thức ăn thấp nhất là 8.983 đồng/kg, trong khi lô thí nghiệm bổ sung 2% hỗn hợp thảo dược (thức ăn công nghiệp + 2% thảo dược) có giá cao nhất là 11.500 đồng/kg. Sự chênh lệch này hoàn toàn hợp lý, do việc bổ sung thêm hỗn hợp thảo dược làm tăng chi phí nguyên liệu trong quá trình phối trộn khẩu phần. Nhìn chung, các công thức thí nghiệm được xây dựng và phối trộn đảm bảo cả yêu cầu dinh dưỡng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và tính khả thi về mặt kinh tế, tạo cơ sở cho việc đánh giá tiếp theo về hiệu quả sử dụng và ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng trứng trong giai đoạn nuôi thử nghiệm.

Đánh giá năng suất cho thấy, hiệu quả sử dụng thức ăn của gà từ giai đoạn 30-65 tuần tuổi giữa các công thức thử nghiệm có thể thấy KPCS bổ sung thảo được đã cải thiện tỉ lệ đẻ, năng suất trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn so với lô đối chứng KPCS không bổ sung thảo dược. Công thức KPCS+1,5%TD và KPCS+2% TD đã cải thiện tỉ lệ đẻ lần lượt 2,17% và 3,29% so với lô đối chứng KPCS (P<0,05). Lô KPCS +0,5% bột quế không có sự sai khác rõ rệt với lô đối chứng ăn KPCS. Trong khi chi phí thức ăn/1 quả trứng của lô KPCS+1,5%TD và KPCS+2% TD chi cao hơn lô đối chứng KPCS lần lượt là 154 và 199 đồng/quả trứng. Tuy nhiên, trứng gà thảo dược có thể bán dễ dàng hơn và bán được giả cao hơn so với trứng gà bình thường, điều này sẽ giúp có thể bù lại cho phần chi phí thức ăn tăng lên và có lãi. Cơ sở chăn nuôi ông Đào Văn Thuyên và cơ sở chăn nuôi bà Nguyễn Thị Mai bán trứng gà thảo dược cao hơn 500-1.000 đồng/quả so với trứng gà không nuôi bằng thức ăn có bổ sung thảo dược. Cơ sở ông Đào Hữu Thuận bản trứng thảo dược cao hơn 300-1.000 đồng/quả so với trứng gà không bổ sung thảo dược. Mức bổ sung thảo dược mức bổ sung 1,5% là mức bổ sung tiềm năng cho gà đẻ Ai Cập trắng vừa có tác dụng cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, vừa giúp giảm chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm so với mức bổ sung 2% thảo dược, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm.

Về chất lượng trứng, nghiên cứu chỉ ra, việc bổ sung thảo dược hoặc bột quế vào khẩu phần ăn không ảnh hưởng đến hàm lượng protein trong lòng đỏ trứng gà (P>0,05). Trong khi có tác dụng làm giảm lượng lipit và cholesterol trong lòng đỏ trứng gà. Từ tuần thứ 4 của thí nghiệm và tuần thứ 8 của lô KPCS + 0,5% bột quế, hàm lượng lipid trong lòng đỏ trứng ở các lô KPCS + 2% TD và KPCS+1,5% TD thấp hơn so với lô đối chứng KPCS không bổ sung thảo dược, đồng thời thấp hơn so với hai lộ TACN và TACN + 2% TD (P<0,05). Việc bổ sung thảo dược vào khẩu phần ăn cơ sở cho thấy tác dụng làm giảm hàm lượng lipid trong lòng đỏ trứng gà tử tuần thử nghiệm thứ 4 so với thời điểm bắt đầu thí nghiệm (P<0,05). Theo Shirzadegan và cs. (2014), các chất chống oxy hóa trong quế có khả năng ngăn ngừa quá trình peroxy hóa lipid ở tế bào, đặc biệt đối với các axit béo không bão hòa, qua đó làm giảm lượng mỡ trong máu và hạn chế sự tích lũy lipid trong thịt và trứng gà.

Các kết quả thử nghiệm cho thấy việc bổ sung thảo dược vào khẩu phần có tác động tích cực và toàn diện đến cải thiện năng suất trúng, cải thiện chất lượng trứng, giảm lượng cholesterol trong lòng đỏ trứng, tăng cường sức khỏe đàn gà và cải thiện hiệu quả chăn nuôi gà Ai Cập trắng từ 30 - 65 tuần tuổi. Bổ sung thảo dược ở mức 1,5% hoặc 2,0% vào KPCS đã làm tăng rõ rệt tỷ lệ đẻ và năng suất trứng so với lô đối chứng sử dụng khẩu phần cơ sở (P<0,05). Mức bổ sung 1,5% thảo dược và 2,0% thảo dược vào KPCS hay 0,5% bột quế có tác dụng giảm lần lượt 11,56%, 16,21% và 10,9% lượng cholesterol trong lòng đỏ trứng gà so với lô đối chứng KPCS và giảm lần lượt 11,86% và 16,42%, và 10,8% so với lô TACN (P<0,05). Khi so sánh các chỉ tiêu này giữa hai mức bổ sung 1,5% hoặc 2,0% thảo dược là không khác nhau đáng kể (P>0,05). Trong khi, mức bổ sung 1,5% giúp giảm tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng và giảm chi phí sản xuất trứng so với mức bổ sung 2,0%. Tổng hợp các kết quả đánh giá về năng suất, chất lượng sản phẩm (trứng và thịt gà hết chu kỳ sinh sản), tỉ lệ loại thải, sức khỏe đàn gà và hiệu quả kinh tế cho thấy mức bổ sung 1,5% thảo dược là mức tối ưu bổ sung vào KPCS. Mức này vừa đảm bảo cải thiện đáng kể các chi tiêu kỹ thuật (năng suất trứng, các chi tiêu chất lượng trứng và chỉ tiêu liên quan đến chất lượng thịt gà hết chu kỳ sinh sản), vừa giúp giảm chi phí thức ăn so với mức 2%. Mức bổ sung 0,5% bột quế mặc dù có giá trị lợi nhuận ước tính là cao nhất song các chỉ tiểu liên quan đến chất lượng trứng, chất lượng thịt gà hết chu kỳ sinh sản và chỉ tiêu năng suất trứng đều thấp hơn lô bổ sung 1,5% hỗn hợp thảo dược. Do đó, mức bổ sung thảo dược 1,5% vào KPCS được khuyến nghị áp dụng trong xây dựng mô hình chăn nuôi gà đẻ “trứng gà thảo dược” theo hướng hạ cholesterol.

Việc triển khai mô hình tại 3 cơ sở chăn nuôi là hộ bà Nguyễn Thị Mai, ông Đào Hữu Thuân và ông Đào Văn Thuyên; mỗi hộ 72 con nuôi bằng thức ăn công nghiệp, 72 con ăn KPCS, 360 con KPCS + 1,5% TD, thời gian nuôi từ 30-65 tuần tuổi (kết thúc chu kỳ khai thác trứng) tiếp tục khẳng định hiệu quả của mức bổ sung 1,5% thảo dược trong điều kiện sản xuất thực tế. Bổ sung 1,5% thảo dược vào khẩu phần cơ sở giúp cỉa thiện rõ rệt năng suất trứng so với lô KPCS không bổ sung (tăng 3,7%, P<0,05) và đạt mức tương đương với lô thức ăn công nghiệp (P>0,05). Mức tiêu tốn thức ăn/10 quả rứng của lô KPCS + 1,5% thảo dược thấp hơn lô TACN và chỉ cao hơn không đáng kể so với lô KPCS, trong khi trứng của gà được bổ sung thảo dược lại có giá bán cao hơn 300-500 đồng/quả và có thể cao hơn tới 800-1.000 đồng/quả. Điều này giúp mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.

Bổ sung 1,5% thảo dược cũng góp phần cải thiện sức khỏe đàn gà, thể hiện qua tỷ lệ loại thải và chết ở mức thấp nhất (4,35%), so với lô KPCS (6,94%) và lô TACN (9,26%). Kết quả tại cả 3 trang trại tham gia mô hình đều cho thấy xu hướng nhất quán: lô KPCS + 1,5% thảo dược có năng suất trứng cao hơn, chi phí thức ăn hợp lý hơn và tỷ lệ loại thải, chết thấp nhất. Ngoài ra, mô hình còn cho thấy khả năng giảm phát thải khí độc từ phân gà. Lượng khí H2S và NH3 ở lô KPCS + 1,5% thảo dược giảm lần lượt 49,51% và 52,04% so với lô KPCS và giảm 66,67% và 79,59% so với lô TACN ở thời điểm 42 ngày theo dõi. Điều này khẳng định bổ sung thảo dược giúp cải thiện tiêu hóa, hấp thu chất dinh dưỡng và giảm ô nhiễm môi trường chăn nuôi. Như vậy, mô hình sản xuất đã chứng minh mức bổ sung 1,5% thảo dược là phù hợp, hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi gà Ai Cập trắng.

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, cả 3 mô hình đều hoạt động khá tốt. Các trang trại đều nắm vững kỹ thuật phối trộn thức ăn và kỹ thuật bổ sung thảo dược vào khẩu phần cho gà đẻ. Việc bán sản phẩm là quan trọng nhất để mang lại lợi nhuận và phát triển mô hình. Cả 3 trang trại đã có khách hàng quen đến mua trứng thảo dược và có được lợi nhuận khá tốt để tiếp tục duy trì và phát triển. Để có thể bán được sản phẩm, các cơ sở cần nghiêm túc thực hiện chăn nuôi theo đúng quy trình để đảm bảo có được uy tín. Cần mở rộng các đối tượng khách hàng, nhất là các khách hàng mua buôn với số lượng lớn, phát triển hình thức bán online để tăng lượng khách hàng. Nghiên cứu cũng hoàn thiện quy trình kỹ thuật, trong đó các bước phối trộn thức ăn gồm: chuẩn bị số lượng và nghiền nguyên liệu thức ăn; cân khối lượng từng loại thức ăn nguyên liệu đã nghiền nhỏ; phối trộn hỗn hợp thức ăn. Trong khuôn khổ đề tài, nhóm nghiên cứu cũng triển khai 04 lớp tập huấn kỹ thuật cho 200 cơ sở chăn nuôi, 03 hội thảo khoa học nhằm đánh giá kết quả thử nghiệm, quy trình kỹ thuật, kết quả thực hiện mô hình và thảo luận với các cơ sở chăn nuôi về khả năng ứng dụng thực tiễn…

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.