Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 454 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống sò huyết Anadara granosa trong ao (16/03/2026)
Hiện nay, nguồn lợi thủy sản biển trong đó có sò huyết ngày càng suy giảm, sản lượng khai thác đã đến mức tới hạn, bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát triển nguồn lợi còn hạn chế.
Hiện nay, một số cơ sở thực hiện sản xuất giống sò huyết trong ao đất lót đáy bạt, qua khảo sát sơ bộ của nhóm đề tài với một số nông hộ tại xã Lý Nhơn- huyện Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh cho thấy bên cạnh ưu điểm diện tích ao lớn, tận dụng được nguồn tảo có trong tự nhiên làm thức ăn cho sò huyết nên không tốn nhiều chi phí thức ăn và chất lượng nước vào mùa khô phù hợp để sản xuất giống, tuy nhiên hình thức này còn nhiều vướng mắc khó khăn trong kỹ thuật nên còn nhiều rủi ro trong sản xuất: (1) thời gian sản xuất ngắn chỉ được 6 tháng mùa khô nên độ mặn phù hợp từ 15- 25 ppt, mùa mưa kéo dài 6 tháng nên độ mặn rất thấp, có thời điểm độ mặn 0 ppt nên không thể sản xuất được; (2) nguồn gốc sò dùng làm bố mẹ được khai thác từ các bãi nuôi thương phẩm với nguồn giống từ các trại sản xuất và một phần từ tự nhiên nên khả năng sự cận huyết về mặt di truyền khá cao khiến kích thước sò thương phẩm ngày càng giảm; (3) chất lượng sò bố mẹ: do là chênh lệch giá thành khá cao giữa sò kích thước nhỏ và kích thước lớn cũng như sản lượng sò có kích thước lớn cỡ 30 mm không nhiều nên các cơ sở sản xuất hiện này trung bình sử dụng trên 10 tấn sò thương phẩm có kích thước từ 15 mm- > 30 mm chiều dài vỏ làm sò sinh sản, điều này ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng ấu trùng cũng như chất lượng sò giống, tỉ lệ thất bại của các đợt sinh sản và ương là khá cao; (4) dinh dưỡng chủ yếu dựa vào nguồn tảo có trong nước tự nhiên, một số trại chủ động bổ sung thêm tảo khô Spirulina sp. vào bể sau 24 giờ sò đẻ với khối lượng chỉ được ước lượng nên hiệu quả không rõ rệt và gây bẩn nước, tạo điều kiện cho một số loại nấm có hại trong nước phát triển; (5) do thức ăn phụ thuộc vào nguồn tảo tự nhiên nên không chủ động kiểm soát được mật độ tảo trong ao nuôi; (6) cát được bổ sung là nền đáy cho sò đáp đáy nhưng kích thước cỡ hạt chưa được xác định được kích thước hạt cát phù hợp với sò đáp đáy spat trong khi nhiều nghiên cứu cho thấy chất đáy đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn này; (7) mật độ ương chủ yếu dựa theo kinh nghiệm. Để loại hình sản xuất sò giống trong ao hiện nay có thể tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn, sản lượng cao hơn thì cần có những nghiên cứu để xác định một số yếu tố cần thiết phù hợp với đặc điểm sinh học sinh sản và phát triển của sò huyết qua các giai đoạn.
Để có được giống sò huyết đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II được Bộ triển khai đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống sò huyết Anadara granosa trong ao” thuộc nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ thời gian thực hiện từ 2022 đến 2023.
Đề tài được nhóm nghiên cứu triển khai những nội dung sau: (1) Đánh giá tình hình sản xuất giống sò huyết tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh; (2) Xác định mùa sinh sản lần đầu của sò huyết; (3) Xây dựng quy trình sản xuất giống sò huyết trong ao; (4) Sản xuất giống sò huyết trong ao ở quy mô sản xuất. Triển khai những nội dung trên, ban chủ nhiệm đã thu được kết quả như sau:
(1) Đánh giá tình hình sản xuất giống sò huyết tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh:
Nghề nuôi sò huyết ở Cần Giờ - Tp. Hồ Chí Minh còn rất mới, theo khảo sát từ các nông hộ có độ tuổi từ 30- 61, kinh nghiệm sản xuất nhuyễn thể dao động từ 3-15 năm, tuy nhiên đối với sò huyết khá là non trẻ từ 3- 8 năm. Diện tích ao nuôi tương đối (dao động từ 200– 500 m2) và có diện tích ao lắng lớn (dao động từ 800– 1.200 m2) giúp đảm bảo nguồn nước đầu vào cho sản xuất giống sò huyết. Thời gian sản xuất trong năm ngắn từ 3 đến 4 đợt, mỗi đợt thu hoạch 150- 350 triệu con/đợt. Thời gian sản xuất trong năm ngắn, chỉ sản xuất trong 6 tháng mùa khô khi độ mặn phù hợp từ 15– 25 ppt, vào mùa mưa kéo dài 6 tháng nên độ mặn rất thấp có thời điểm chỉ còn 0 ppt nên không thể sản xuất được. Việc sản xuất sò giống ở đây chủ yếu ở qui mô nhỏ lẻ, theo hộ gia đình sản xuất, mức đầu tư trung bình, tuy là loài khó chăm sóc quản lí nhưng đem lại hiệu quả kinh tế ổn định cho các hộ dân. Kết quả điều tra cho thấy sản xuất giống sò huyết tại địa phương điều tra hoàn toàn phát triển do nhu cầu thị trường nhưng thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật cũng như quản lý từ các cơ quan chức năng. Do đó để nghề sản xuất này phát triển ổn định và bền vững thì cần có sự hỗ trợ và qui hoạch của cơ quan chức năng trong sản xuất giống sò huyết nhằm giảm mức độ rủi ro trong sản xuất và tạo ra con giống chất lượng, hạn chế được sự cạnh tranh không lành mạnh trong sản xuất.
Kết quả điều tra các hộ dân cho thấy, chi phí sản xuất thực tế cho 1 vụ nuôi (500m2) dao động từ 22– 50 triệu đồng, trong đó chi phí về sò bố mẹ chiếm chi phí nhiều nhất vì vậy, cần tìm nguồn sò bố mẹ ở địa điểm có giá cả hợp lí, chất lượng ổn định để giảm giá thành sản phẩm, tối đa hoá lợi nhuận cho các hộ nuôi. Trong sản xuất chăn nuôi, chi phí thức ăn luôn chiếm tỉ lệ lớn nhất nhưng trong sản xuất giống sò huyết trong ao do tận dụng được nguồn thực vật phù du tự nhiên nên chi phí thức ăn rất thấp, 1,57% – 3,44% , đây là ưu điểm nổi bật của mô hình sản xuất này. Vì vậy, cùng với nhu cầu con giống cao trong khi khả năng cung ứng còn hạn chế nên lợi nhuận từ sản xuất giống sò huyết ở qui mô hộ gia đình có lợi nhuận ổn định 20 – 100 triệu đồng/vụ, tỉ suất lợi nhuận ≥ 50%.
Sau khi điều tra 6/6 hộ nuôi đều theo hướng tiếp tục nuôi mô hình sản xuất sò huyết giống, đầu tư mở rộng qui mô sản xuất, không có ý định chuyển sang đối tượng nuôi khác, khuyến khích các hộ nuôi mới theo mô hình giúp tăng hiệu quả kinh tế.
Sản xuất giống sò huyết tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2022 chủ yếu tập trung tại xã Lý Nhơn, sản xuất giống trong ao lót bạt với diện tích từ 200 m2 – 500 m2/ao, thời gian sản xuất tập trung vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có bổ sung thức ăn là tảo khô Spirulina sp và đáy cát. Kỹ thuật sản xuất hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm, chi phí đầu tư ở mức độ trung bình bằng vốn của nông hộ, hiệu quả kinh tế ổn định. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế do phụ thuộc sự thay đổi thời tiết khi sản xuất ngoài trời, đặc biệt là độ mặn nên tỉ lệ thành công trung bình là 20%- 25%, chưa được sự hỗ trợ kỹ thuật và nguồn vốn từ các cơ quan chuyên môn và quản lý.
(2) Xác định mùa sinh sản lần đầu của sò huyết:
Qua phân tích 720 mẫu sò huyết có kích thước chiều dài vỏ ≥ 20 mm từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2022 thu được tại Bến Tre và Cà Mau cho thấy thời gian thành thục của sò ở có sự khác nhau (hình 10), sò cái có đỉnh thành thục vào tháng 4 ở Bến Tre và tháng 5 ở Cà Mau mặc dù sự thành thục sò cái ở cả hai nơi đều tăng nhanh từ tháng 3 và suy giảm vào tháng 8 ở Bến Tre và tháng 9 ở Cà Mau. Mặc dù chênh nhau về thời gian thành thục nhưng tỉ lệ thành thục của sò cái ở hai nơi không quá khác biệt (0,6% và 0,63% ở Bến Tre và Cà Mau). Kết quả nghiên cứu của Trương Sĩ Kỳ và ctv (1996) cho rằng mùa vụ sinh sản của sò huyết tại Trà Vinh cũng diễn ra quanh năm tập trung cao điểm từ tháng 3 - 6 và tại vùng ven biển Nam Bộ tập trung vào tháng 12 - 6 theo Nguyễn Hữu Phụng (1999) và của Phùng Bảy (2017) tại Bến Tre là từ tháng 3 đến tháng 6. Sự thay đổi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn,….có thể tác động tới sự thành thục sinh sản của sinh vật.
Vào thời gian thành thục của sò huyết, từ tháng 3 đến tháng 8 nghiên cứu đánh giá sự thành thục của sò huyết ở 3 nhóm kích thước: 15 mm < nhóm 1 < 20 mm, 20 mm ≤ nhóm 2 ≤ 30 mm, nhóm 3 > 30 mm để xác định kích thước sinh sản lần đầu của sò. Kết quả được thể hiện qua hình 11. Kết quả cho thấy sò huyết ở Cà Mau có 50% sò thành thục ở kích thước xấp xỉ 21 mm trong khi 50% sò ở Bến Tre thành thục ở 22 mm. Các điều kiện tự nhiên ở Cà Mau như độ mặn, thức ăn tự nhiên cho sò… phù hợp giúp cho sự thành thục của sò xảy ra sớm hơn so với sò ở Bến Tre.

Chọn sò bố mẹ.
Qua 6 tháng điều tra trong khoảng thời vụ sinh sản của sò ở Bến Tre và Cà Mau cho thấy sò thành thục lần đầu đều thuộc nhóm 2, 20 mm - 30 mm. Từ đó cho thấy để đạt hiệu quả trong sản xuất giống thì lựa chọn kích thước sò bố mẹ là những yếu tố quan trọng, kích thước sò bố mẹ tối thiểu là 22 mm đối với sò ở Bến Tre và 21 mm đối với sò ở Cà Mau.
(3) Xây dựng quy trình sản xuất giống sò huyết trong ao:
+ Kích thích sò sinh sản bằng sốc nhiệt kết hợp thay đổi độ ẩm
+ Giai đoạn ấu trùng Veliger đến giai đoạn sống đáy (spat) trong ao: chất đáy là cát mịn (0,05 - 0,25 mm), mật độ ấu trùng Veliger là 1.000 con/l có bổ sung 0,2g Spirulina sp.khô/m3/lần, bổ sung 2 lần/ngày lúc 8 giờ sáng và 3 giờ chiều.
+ Giai đoạn sống đáy (spat) đến con giống cấp I: lượng thức ăn bổ sung là 50 tế bào Chlorella sp./ml/lần hoặc 0,5g Spirulina sp./m2/lần, cho ăn hai lần hàng ngày vào lúc 8 giờ sáng và 3 giờ chiều ở mật độ ương 10.000 spat/m2.
Có kết quả:
+ Tỉ lệ sò sinh sản: 82,67%, tỉ lệ thụ tinh của trứng: 83%, tỉ lệ nở: 81,3%.
+ Từ ấu trùng chữ D (Veliger) đến ấu trùng điểm mắt có tỉ lệ sống và tăng trưởng lần lượt là 31,22% và 2,96%/ngày.
+ Từ ấu trùng chữ D (Veliger) đến giai đoạn đáp đáy (Spat) có tỉ lệ sống là 2,93% và tốc độ tăng trưởng là 3,72%/ngày
+ Từ spat đến sò giống cấp I có tỉ lệ sống và tăng trưởng lần lượt là 23,5% và 3,44%/ngày.
(4) Sản xuất giống sò huyết trong ao ở quy mô sản xuất:
+ Tỉ lệ sản xuất thành công 66,67% (4/6); Tỉ suất lợi nhuận khi thành công dao động từ 38,96% - 97,86%.
+ Tỉ lệ sinh sản 53,4% - 87,4%; Tỉ lệ thụ tinh của trứng 43,0%- 86,0%; Tỉ lệ nở 41,0%- 83,8%.
+ Tỉ lệ sống và tăng trưởng của ấu trùng chữ D (Veliger) đến ấu trùng điểm mắt lần lượt là 0- 31,8% và 0%/ngày – 4,79%/ngày; Tỉ lệ sống và tăng trưởng của ấu trùng điểm mắt- spat (%) lần lượt là 0- 9,5% và 0%/ngày – 5,67%/ngày; Tỉ lệ sống và tăng trưởng của Veiger- spat (%) lần lượt là 0% - 3,1% và 0%/ngày – 6,16%/ngày; Tỉ lệ sống và tăng trưởng của spat- sò giống cấp I lần lượt là 0% - 25,96% và 0%/ngày – 5,00%/ngày.
+ Số lượng sò giống cấp I nghiệm thu: 2.500.000 con kích thước 1,5mm-2,0mm
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo điều kiện sản xuất giống sò huyết trong ao nhằm chủ động sản xuất trong điều kiện khí hậu biến đổi ngày càng tăng theo hướng tiêu cực như hiện nay, đồng thời mở rộng nghiên cứu điều kiện sản xuất ở các địa phương khác ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long- nơi có điều kiện tự nhiên để phát triển nghề nuôi sò huyết./.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu mô hình đô thị trung hóa các-bon; đánh giá thí điểm cho 02 đô thị ở Việt... (20/03/2026)
- Xây dựng mô hình nuôi lươn đồng Monopterus albus (Zuiew, 1793) thương phẩm trong... (18/03/2026)
- Ứng dụng giải pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh... (13/03/2026)
- Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở khu vực phi chính thức... (11/03/2026)
- Nghiên cứu, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may... (09/03/2026)
