Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 26786
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững gắn với du lịch trải nghiệm tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) (23/01/2026)

Tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng), với diện tích tự nhiên 1.668,28 km² và dân số khoảng 1,97 triệu người năm 2024, sở hữu nhiều lợi thế để phát triển loại hình này nhờ vị trí chiến lược trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hệ thống làng nghề truyền thống phong phú và nguồn tài nguyên văn hóa, lịch sử dày đặc. Năm 2024, kinh tế tỉnh tiếp tục phát triển mạnh với GRDP đạt hơn 212 nghìn tỷ đồng, thuộc nhóm 10 tỉnh tăng trưởng cao nhất cả nước. Cùng năm, du lịch Hải Dương ghi nhận sự khởi sắc rõ rệt với 2,55 triệu lượt khách, tăng 41% so với 2023, và doanh thu khoảng 1.222 tỷ đồng. Những con số này cho thấy nhu cầu du lịch đang tăng nhanh, đặc biệt là nhu cầu về các sản phẩm du lịch mới mang tính trải nghiệm, sinh thái và gắn với nông nghiệp.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các mô hình nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch trải nghiệm tại Hải Dương vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Sự liên kết giữa sản xuất nông nghiệp và dịch vụ du lịch còn rời rạc; hạ tầng du lịch nông thôn và chất lượng dịch vụ chưa đồng bộ; sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế; trong khi các yếu tố quan trọng như chính sách hỗ trợ, nguồn lực tài chính, trình độ quản lý, năng lực tổ chức sản phẩm du lịch và định hướng thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ để tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Mặt khác, quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa nhanh của Hải Dương cũng gây áp lực lên không gian sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên văn hóa, những yếu tố cốt lõi cho phát triển du lịch sinh thái và du lịch trải nghiệm nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, việc triển khai đề tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững gắn với du lịch trải  nghiệm tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) không chỉ giúp nhận diện rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình, mà còn tạo cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, nâng cao giá trị kinh tế, xã hội và góp phần bảo tồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa của tỉnh. Đề tài do Học viện Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện, TS.GVC. Nguyễn Hữu Nhuần làm chủ nhiệm.

Kết quả đánh giá một số tiêu chí về tự nhiên, môi trường và kết nối giao thông của các mô hình.

Nghiên cứu các mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái tỉnh Hải Dươngcho thấy, ba mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái tại tỉnh Hải Dương đại diện cho ba nhóm mô hình khác nhau, dựa trên nền tảng tài nguyên và phương thức tổ chức phát triển. Mô hình tại Thanh Hà thuộc nhóm du lịch nông nghiệp đặc sản gắn với cây ăn quả, khai thác giá trị sản xuất và văn hóa của vải thiều; mô hình Đảo Cò Chi Lăng Nam (Thanh Miện) thuộc nhóm du lịch sinh thái tự nhiên, dựa vào hệ sinh thái đất ngập nước và đa dạng sinh học; trong khi mô hình Chí Linh là sự kết hợp giữa du lịch văn hóa – tâm linh (Côn Sơn – Kiếp Bạc) với các hoạt động du lịch nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp vệ tinh. Sự khác biệt về tài nguyên nền tảng dẫn đến khác biệt rõ rệt về quy mô dòng khách, cơ cấu thu nhập, mức độ tham gia của cộng đồng và áp lực môi trường. Xét về hiệu quả kinh tế – xã hội, mô hình Thanh Hà cho thấy tác động trực tiếp và rõ nét nhất đến thu nhập của hộ nông dân, thông qua kết hợp giữa doanh thu từ sản xuất nông nghiệp (vải thiều) và thu nhập bổ sung từ dịch vụ du lịch trải nghiệm. Mô hình này phù hợp với các địa bàn có nông sản đặc sản, thương hiệu rõ ràng và quy mô sản xuất đủ lớn, cho phép người dân tham gia trực tiếp và hưởng lợi tương đối đồng đều. Trong khi đó, mô hình Đảo Cò tạo sinh kế chủ yếu từ dịch vụ du lịch, ít gắn trực tiếp với sản xuất nông nghiệp của hộ, nhưng lại có vai trò quan trọng trong đa dạng hóa sinh kế và tạo việc làm tại chỗ cho cộng đồng địa phương. Mô hình Chí Linh có tác động lan tỏa mạnh về kinh tế dịch vụ nhờ dòng khách lớn từ du lịch văn hóa – tâm linh; tuy nhiên, lợi ích đối với nông dân và khu vực nông thôn chỉ thực sự rõ nét khi có các mô hình vệ tinh (trải nghiệm nông nghiệp, doanh nghiệp nông sản như Ong Mật Việt Ý) được kết nối hiệu quả với điểm đến trung tâm. Từ góc độ môi trường, mô hình Đảo Cò có giá trị sinh thái cao nhất nhưng cũng nhạy cảm nhất trước áp lực khai thác du lịch, đòi hỏi kiểm soát nghiêm ngặt về sức tải và hành vi du khách. Mô hình Thanh Hà và các mô hình gắn với cây ăn quả có tác động môi trường ở mức trung bình, phụ thuộc lớn vào phương thức canh tác; khi sản xuất theo hướng sinh thái, VietGAP hoặc hữu cơ, du lịch trở thành động lực khuyến khích bảo vệ đất, nước và cảnh quan nông nghiệp. Mô hình Chí Linh đặt ra thách thức môi trường chủ yếu ở khía cạnh quá tải hạ tầng, rác thải và suy giảm chất lượng trải nghiệm trong mùa cao điểm lễ hội, hơn là suy thoái hệ sinh thái tự nhiên.

Về khả năng nhân rộng, mô hình du lịch nông nghiệp gắn với cây ăn quả và nông sản đặc sản được đánh giá là phù hợp nhất để mở rộng tại Hải Dương, do hội tụ các yếu tố: tài nguyên sẵn có rộng khắp, mức đầu tư ban đầu không quá cao, hiệu quả kinh tế trực tiếp đối với hộ nông dân, dễ gắn với OCOP và chuỗi giá trị nông sản. Trong trung và dài hạn, các mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái tại Hải Dương đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức. Đáng chú ý, tính mùa vụ là thách thức xuyên suốt đối với tính bền vững thu nhập
của hộ nông dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái tại Thanh Hà, Thanh Miện và Chí Linh không chỉ có hiệu quả bước đầu mà còn sở hữu tiềm năng phát triển đáng kể trong trung và dài hạn, xét trên các khía cạnh mở rộng quy mô và dịch vụ, tác động kinh tế - xã hội - môi trường và khả năng phát triển các loại hình dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy, phần lớn tài nguyên du lịch vẫn dừng ở mức tiềm năng, cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ, sản phẩm trải nghiệm chưa phong phú, liên kết thị trường hạn chế, truyền thông – chuyển đổi số chưa mạnh, năng lực cộng đồng và tổ chức mô hình còn yếu. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới tư duy phát triển du lịch, nhất là trong bối cảnh Hải Dương phải thích ứng với chiến lược du lịch cấp vùng của Hải Phòng.

Trên cơ sở phân tích tiềm năng và thực trạng, nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững gắn với du lịch trải nghiệm trên địa bàn tỉnh Hải Dương: yếu tố tự nhiên, môi trường và kết nối giao thông; chính sách và hỗ trợ từ Nhà nước; kinh tế và thị trường; văn hóa và nhận thức cộng đồng; nội lực của cơ sở; công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất 07 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái gắn với trải nghiệm tại Hải Dương theo hướng bền vững và liên kết vùng. Các giải pháp bao gồm:

Một là, nhóm giải pháp quy hoạch và phát triển không gian du lịch nông nghiệp – sinh thái, trong đó hoàn thiện cơ chế quản lý và chuyển đổi linh hoạt đất nông nghiệp; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành và liên kết vùng trong phát triển mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái bền vững.

Hai là, phát triển sản phẩm du lịch nông nghiệp đặc trưng, gồm: phát triển và hoàn thiện hệ thống sản phẩm du lịch nông nghiệp mang bản sắc địa phương; đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái gắn với chuỗi giá trị nông sản địa phương (Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu chuẩn hóa cho từng mô hình; Phát triển hệ thống truyền thông số cho mô hình và kết nối liên thông với thành phố Hải Phòng; Tích hợp mô hình vào bản đồ số du lịch của tỉnh và thành phố; Tổ chức truyền thông theo mùa vụ, sản phẩm và sự kiện; Tăng cường hợp tác truyền thông với doanh nghiệp lữ hành và cơ quan báo chí).

Ba là, nâng  cao năng lực cộng đồng và tổ chức hoạt động du lịch, gồm: nâng cao năng lực và kỹ năng tổ chức hoạt động du lịch cho chủ mô hình và cộng đồng địa phương; phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản trị cho các mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái; phát triển và nâng cao năng lực nguồn nhân lực cho các mô hình nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch trải nghiệm.

Bốn là, hoàn thiện hệ sinh thái chuỗi giá trị và tổ chức trung gian, trong đó tăng cường liên kết chuỗi và phát triển tổ chức trung gian hỗ trợ mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái.

Năm là, truyền  thông, quảng bá và xây dựng thương hiệu. Trong đó đẩy mạnh truyền thông và chuyển đổi số trong quảng bá mô hình nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch trải nghiệm; đẩy mạnh truyền thông, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường cho các mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái; tăng cường hoạt động truyền thông, quảng bá thương hiệu du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp đặc trưng của Hải Dương.

Sáu là, chuyển  đổi số và ứng dụng công nghệ trong quản lý – vận hành. Thực hiện ứng dụng chuyển đổi số trong truyền thông, quảng bá và quản lý mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái; xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu số phục vụ phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch trải nghiệm.

Bảy là, tăng  cường cơ chế chính sách và huy động nguồn lực cho phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái gắn với trải nghiệm, trong đó phát triển hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái tại các mô hình nông nghiệp; đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật tại mô hình du lịch sinh thái từ nguồn lực địa phương và đối tác tư nhân.

Với kết quả nghiên cứu trên đã cho thấy Hải Dương hoàn toàn có điều kiện trở thành trung tâm du lịch nông nghiệp sinh thái hàng đầu vùng duyên hải Bắc Bộ, nếu biết tận dụng lợi thế sau sáp nhập và tham gia chủ động vào hệ sinh thái du lịch của Hải Phòng. Việc thực thi đồng bộ các nhóm giải pháp đề xuất sẽ không chỉ khai thác tối ưu giá trị tài nguyên bản địa mà còn góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân, tăng giá trị gia tăng của nông nghiệp, bảo tồn văn hóa truyền thống, và đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của thành phố Hải Phòng trong giai đoạn mới.

Từ những luận cứ trên, báo cáo khẳng định tính cấp thiết của việc phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái tại Hải Dương sau sáp nhập và cho rằng hệ thống giải pháp đề xuất có thể đóng vai trò cơ sở tham khảo quan trọng cho hoạch định chính sách, xây dựng chương trình phát triển và triển khai mô hình thực tiễn trong thời gian tới, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững, bao trùm và gắn kết vùng. Hải Dương vốn là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, sở hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, bao gồm hệ sinh thái sông – hồ đặc trưng, các điểm di tích văn hóa – lịch sử có giá trị quốc gia, làng nghề truyền thống lâu đời, và hệ thống cây ăn quả, nông nghiệp hàng hóa đa dạng. Đây là nền tảng thuận lợi để phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.