Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 26781 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng mô hình trồng một số giống hoa sen gắn với phát triển du lịch tại tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) (29/01/2026)
Cây hoa sen (Nelumbo nucifera) là cây trồng thủy sinh quen thuộc, gắn bó lâu đời với người Việt Nam, có giá trị đa mục đích: làm cảnh quan, hoa cắt cành, thực phẩm, hương liệu, dược liệu, nguyên liệu cho công nghiệp - thủ công mỹ nghệ và phục vụ du lịch, trải nghiệm sinh thái. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ chế biến, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng từ cây sen đã được đưa ra thị trường, biến sen trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều địa phương trong nước như Hà Nội, Thái Bình, Ninh Bình… với giá trị thu nhập gấp 2-3 lần so với cây lúa. Tuy nhiên, ở phần lớn vùng trồng sen trong nước, trong đó có Hải Dương, giống trồng chủ yếu vẫn là các giống bản địa, truyền thống. Các giống này có ưu điểm là sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh khá, dễ trồng, dễ chăm sóc, nhưng nhược điểm là dạng hình hoa còn đơn điệu, cánh hoa mỏng, hoa nhanh tàn, thời gian thu hoạch ngắn; năng suất hoa, hạt, ngó, củ và chất lượng sản phẩm chưa cao. Kỹ thuật canh tác chủ yếu mang tính quảng canh, dựa nhiều vào kinh nghiệm và tập quán, nên hiệu quả kinh tế từ trồng sen còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng.
Hải Dương là tỉnh có điều kiện tự nhiên, sinh thái thuận lợi cho phát triển nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, trong đó có cây sen. Trên địa bàn tỉnh hiện còn nhiều diện tích ruộng trũng, thường xuyên úng ngập, trồng lúa kém hiệu quả, dễ bị rủi ro do thời tiết. Đồng thời, tỉnh có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái, nổi bật là khu du lịch Đảo Cò (xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện) hằng năm đón hàng vạn lượt khách tham quan. Việc chuyển đổi một phần diện tích ruộng trũng xung quanh khu vực này sang trồng sen hàng hóa, kết hợp khai thác đồng bộ 4 loại sản phẩm (hoa, hạt, ngó, củ) vừa tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, vừa bổ sung cảnh quan, môi trường sống và nguồn thức ăn cho đàn cò, qua đó gia tăng giá trị cho cả “sen và cò”, gắn nông nghiệp với du lịch sinh thái – trải nghiệm. Trước thực tế đó, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh chủ trì thực hiện đề tài Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng mô hình trồng một số giống hoa sen gắn với phát triển du lịch tại tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng), PGS.TS. Đặng Văn Đông làm chủ nhiệm.

Khảo sát đánh giá về nguồn giống, diện tích trồng, thời vụ trồng, kỹ thuật trồng, đầu ra sản phẩm, hiệu quả kinh tế trồng sen tại các địa phương: huyện Ninh Giang, Bình Giang, Kim Thành, Gia Lộc, Nam Sách, Thanh Miện, thành phố Hải Dương và thành phố Chí Linh cho thấy, giống lấy từ cây sen của các hộ trồng sen tại địa phương chiếm tỷ lệ cao nhất (55,56%); giống để lại từ vụ trước chiếm 33,33%; giống tách nhánh trực tiếp từ cây mẹ đang trồng chiếm tỷ lệ thấp nhất (11,11%). Kết quả này cho thấy nguồn giống sen hiện nay tại Hải Dương chủ yếu mang tính tự phát, chưa qua tuyển chọn, chưa được chuẩn hóa về chất lượng, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm chưa ổn định. Phần lớn các địa phương hiện nay trồng sen chủ yếu theo hai hướng: lấy hoa và lấy hạt. Tại Ninh Giang, sen lấy hoa chiếm 39,5%, sen lấy hạt chiếm 60,5%. Tại Bình Giang, Kim Thành, sen lấy hoa chiếm khoảng 41%, sen lấy hạt chiếm 59%. Tại Gia Lộc, sen lấy hoa chiếm 32%, sen lấy hạt chiếm 68%. Tại Nam Sách và Thanh Miện, cơ cấu giống và mục đích khai thác đã đa dạng hơn, ngoài sen lấy hoa và lấy hạt còn có sen lấy ngó và sen lấy củ. Tỷ lệ tương ứng: sen lấy hoa 35%, sen lấy hạt 50%, sen lấy củ 10%, sen lấy ngó 5%. Các giống sen tại địa phương chủ yếu được gọi theo mục đích sử dụng như: sen hồng (lấy hoa), sen mặt bằng hoặc sen chè (lấy hạt), sen củ (lấy củ). Một số địa phương đã bước đầu đưa vào trồng các giống mới phục vụ đa mục tiêu, gắn với du lịch sinh thái và trải nghiệm (Minh Tân - Nam Sách; Hưng Long - Ninh Giang; Chi Lăng Nam - Thanh Miện). Về thời vụ trồng và kỹ thuật canh tác, người dân tại các điểm khảo sát chủ yếu tự để giống cho vụ sau bằng cây con hoặc củ sen giống. Tại Ninh Giang, sen chủ yếu phát triển tự lan, ít trồng dặm bổ sung; trong khi tại Thanh Miện, người dân thường trồng bổ sung ở vụ sau để đảm bảo mật độ và năng suất ổn định. Thời vụ trồng sen tập trung chủ yếu vào vụ xuân, từ tháng 3–4; một số ít hộ trồng muộn hơn vào tháng 5-6. Việc sử dụng phân bón trong sản xuất sen tại Hải Dương còn hạn chế. Chỉ khoảng 14,2% số hộ điều tra có bón bổ sung phân NPK tổng hợp (25 kg NPK 5:10:3/360 m²) trong trường hợp sen sinh trưởng kém, mật độ thưa. Thời gian ra hoa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8; thu hoạch gương sen từ tháng 6 đến tháng 9, riêng sen già có thể kéo dài đến tháng 10. Đối với sen lấy hạt, thời gian cho thu hoạch hoa và gương sen khoảng 90-110 ngày. Về năng suất, hiệu quả kinh tế và tiêu thụ sản phẩm, kết quả cho thấy sen lấy ngó và sen lấy hoa cho hiệu quả kinh tế cao hơn sen lấy hạt; tuy nhiên, do chưa có bộ giống chuyên biệt, người dân chủ yếu trồng sen lấy hạt kết hợp thu hoa, ngó, củ nên hiệu quả chưa phát huy tối đa. Việc tiêu thụ sản phẩm sen tại Hải Dương hiện nay chủ yếu thông qua thương lái thu mua trực tiếp tại ruộng, chưa hình thành chuỗi liên kết ổn định. Hạt sen được tiêu thụ ở dạng tươi (~30%) và khô (~70%), giá bán chưa cao so với các địa phương khác. Trên cơ sở tiêu chí lựa chọn đã xác định trong thuyết minh đề tài (diện tích, điều kiện đất đai, tính ổn định, hạ tầng, khả năng quản lý và nhân rộng), nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được khu đất triển khai thí nghiệm và xây dựng mô hình tại thôn An Dương, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện. Khu đất có diện tích khoảng 3,5 ha, là ruộng trũng sản xuất lúa kém hiệu quả, các thửa liền vùng, địa hình bằng phẳng, có hệ thống thủy lợi thuận lợi, được chính quyền địa phương và người dân đồng thuận chuyển đổi sang trồng sen gắn với phát triển du lịch sinh thái khu vực Đảo Cò.
Dựa trên những khảo sát trong quá trình thu thập thông tin để lựa chọn địa điểm và kế thừa từ các nghiên cứu trước đó của Viện Nghiên cứu Rau quả đã thực hiện tại Phú Thọ và Ninh Bình thì sen lấy hoa tốt nhất là giống Super, sen lấy hạt tốt nhất là giống Mặt bằng; sen lấy ngó tốt nhất là giống Quan âm trắng, sen lấy củ tốt nhất là giống Vân Đài 1. Do đó đề tài sử dụng các giống Super, giống Mặt bằng, giống Quan âm trắng, Vân Đài 1 vào các thí nghiệm hoàn thiện quy trình nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế và xây dựng mô hình.
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống các giống hoa sen đã được lựa chọn phù hợp với điều kiện tỉnh Hải Dương được thực hiện với việc nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tách thân đến tỷ lệ bật mầm và sinh trưởng phát triển của các giống sen đã được chọn. Nhóm nghiên cứu cũng hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế một số sản phẩm từ các giống hoa sen được lựa chọn phù hợp với điều kiện tỉnh Hải Dương. Từ các nghiên cứu trên, đề tài xây dựng mô hình trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế các sản phẩm từ cây hoa sen gắn với phát triển du lịch tại tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống sen trong mô hình, giống đối chứng sử dụng trong mô hình là giống phổ biến người dân tại địa phương đang trồng, đây là giống cũ dùng để thu hoa, hạt ngó và cả củ. Giống đối chứng có tỉ lệ sống đạt 90% và 4 giống sen triển vọng đều cho tỉ lệ sống sau trồng 7 ngày trên 90%, cao nhất là giống sen Super với 95%, và thấp nhất là giống sen Quan âm trắng với 90% chứng tỏ giống này mẫn cảm hơn do đó phải chú ý điều kiện trồng và cần kỹ thuật chăm sóc phù hợp hơn. Cho thấy các giống sen này đều khỏe, khả năng thích ứng cao đồng thời phù hợp với điều kiện đất, nước, khí hậu của tỉnh Hải Dương có tỉ lệ sống bằng hoặc lớn hơn giống đối chứng.
Thời gian từ trồng đến xuất hiện lá trải đầu tiên của giống đối chứng là 15 ngày, ở các giống Super, Mặt bằng và Vân Đài 1 khá ngắn chỉ 11-14 ngày ngắn hơn giống đối chứng, cho thấy sự phục hồi của các giống này sau trồng khá nhanh. Riêng chỉ có giống Quan âm trắng cần tới 20 ngày mới xuất hiện lá trải mới. Thời gian từ trồng đến xuất hiện lá đứng dao động từ 33 đến 45 ngày, nhóm sen lấy hoa (sen Super), lấy hạt (sen Mặt bằng) và lấy củ (sen Vân Đài 1) có thời gian xuất hiện lá đứng lần lượt là 33 ngày, 38 ngày và 39 ngày sớm hơn đối chứng 2-8 ngày. Nhóm sen lấy ngó (sen Quan âm trắng) xuất hiện lá đứng muộn hơn đối chứng do đặc tính giống do sau thời kỳ xuất hiện lá trải giống sẽ phát triển mạnh ngó. Sau khi lá đứng xuất hiện là thời kì cây sen phát triển mạnh thân, lá. Sau khoảng 12-19 ngày sau khi ra lá đứng các nhóm sen trong mô hình sẽ nở bông hoa đầu tiên. Và chỉ sau 80-95 ngày sau trồng lá sen đã phủ kín diện tích. Tốc độ lá phủ kín diện tích của các giống cũng khác nhau, các giống sen Super (sen lấy hoa), Vân Đài 1 (sen lấy củ) và Mặt bằng (sen lấy hạt) cần thời gian ngắn hơn giống đối chứng 4-10 ngày để lá phủ kín diện tích do đặc điểm 3 gống này là giống lấy hoa, lấy củ và lấy hạt. Tốc độ ra lá nhanh để sớm tích lũy dinh dưỡng cho quá trình ra hoa và tạo hạt. Với giống sen lấy củ khi lá đứng phát triển ổn định và bộ ngó ăn sâu xuống đất đây là lúc củ bắt đầu phát triển. Giống sen Quan âm trắng là giống lấy ngó theo đặc tính giống cây sen sẽ bắt đầu ra ngó khi lá trải xuất hiện, do đó thời gian để sen Quan âm xuất hiện lá đứng cũng sẽ lâu hơn là các giống sen khác. Đồng thời lá phủ kín diện tích của sen Quan âm trắng cũng sẽ là lá trải trong khi các giống sen khác lá đứng sẽ phát triển và phủ kín diện tích. Thời gian từ trồng đến kết thúc hoa khác biệt giữa các nhóm giống, nhìn chung, nhóm sen lấy hoa có thời gian ra hoa kéo dài hơn nhóm sen lấy hạt, lấy ngó và lấy củ. Giống sen Quan âm trắng có thời gian thu hoa kéo dài, vừa thu ngó và thu hoa. Thời gian từ trồng đến kết thúc ra hoa của giống sen Super là 180 ngày, thời gian từ trồng đến nở hoa đầu tiên là 45 ngày, do đó cây sen Super có 135 ngày thu hoa. Trong khi giống đối chứng chỉ có 90 ngày cho thu hoa. Thời gian cho thu hoa của giống Super dài hơn hẳn giống đối chứng. Cây sen Quan âm trắng có tổng chu kì sinh trưởng dài nhất là 258 ngày, tiếp đến là cây sen Vân Đài 1 250 ngày, Super với 248 ngày, giống Mặt bằng có chu kì sinh trưởng là 242 ngày và đều dài hơn tổng thời gian sinh trưởng của giống đối chứng. Qua kết quả theo dõi về thời gian sinh trưởng, của các giống sen triển vọng, trong mô hình cùng với kết quả thử nghiệm (các nghiên cứu) của năm trước đó, điều này cho thấy các giống sen sinh trưởng phát triển ổn định tại điều kiện tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng).
Nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất và khả năng chống chịu của các giống sen trong mô hình, đối với sen Super, năng suất hoa của sen Super đạt (58.100 bông/ha) vượt trội hơn hẳn giống đối chứng (đạt 41.500 bông/ha). Thông thường, hoa sen có thời gian từ nở đến lúc tàn khá nhanh, chỉ khoảng 2- 3 ngày, tuy nhiên các giống sen Super có độ bền hoa lâu hơn, kéo dài từ 6 ngày. Thêm vào đó là giá trị thẩm mĩ và phát triển du lịch sen Super có kiểu hoa là hoa kép số lượng cánh hoa nhiều thu hút được sự chú ý của đa phần người tiêu dùng còn giống đối chứng là cánh hoa đơn, ít cánh. Do đó giống sen Super rất thích hợp để làm hoa cắt cành và gắn với phát triển du lịch (thưởng hoa, chụp ảnh). Đối với sen Mặt Bằng, năng suất lớn hơn 4.500kg/ ha (> 4,5 tấn/ ha), cụ thể là 4.520 kg/ ha. Trong khi giống đối chứng (giống đang được trồng phổ biển tại địa phương) chỉ đạt 3.300 kg/ha (3,3 tấn/ha). Hạt sen có nhiều tác dụng chữa mất ngủ, an thần, bồi dưỡng cơ thể cho người bệnh. Không những vậy mà mùi vị bùi bùi, thơm thơm cùa hạt sen được sử dụng để chế biến khá nhiều món ăn ngon bổ dưỡng như cháo, xôi, chè, sữa,.. Do đó, chất lượng hạt sen rất đang được quan tâm. Kết quả cho thấy, sau khi luộc/ hấp, hạt sen của các giống triển vọng bở, thơm, ngon và rất bùi, trong khi hạt sen của giống sen đối chứng ăn sượng, nhạt, không có vị bùi. Như vậy, giống sen Mặt bằng có chiều dài và đường kính hạt lớn hơn, năng suất hạt cao hơn, chất lượng hạt sen bở, ngon hơn giống sen đang được trồng phổ biến tại địa phương. Với sen Quan âm trắng, năng suất đạt tới 4.220 kg/ ha, còn giống sen đối chứng chỉ đạt 3.200 kg/ha. Khi trồng tại Hải Dương, chất lượng ngó được đánh giá bởi người tiêu dùng ngó sen của các giống đều trắng, ngọt, giòn, có thể ăn sống và chế biến thành các món ăn rất ngon. giống sen Quan âm trắng có ngó trắng, dễ thu hoạch, trong khi giống sen đối chứng cho ngó màu xám, tím, khó thu hoạch, dễ bị đứt gãy trong quá trình thu hái. Ngoài ra giống sen Quan âm trắng có hoa kép rất đẹp và thười gian sinh trưởng dài hoa có thể kéo dài đến tháng 11 do đó rất thích hợp để phát triển du lịch, trong khi các giống sen khác đã lụi tàn thì sen Quan âm trắng vẫn đang cho hoa. Sen Vân Đài 1 có chiều dài củ đạt 62,7 cm dài hơn hẳn giống đối chứng 12,3cm, đường kính củ dài từ đạt 6,9cm trong khi giống đối chứng chỉ đạt 5,2cm. Tỉ lệ củ đạt loại I cũng cao hơn hẳn giống đối chứng. Giống sen Vân Đài I vượt trội hơn hẳn giống đối chứng về các yếu tố cấu thành năng suất cũng như năng suất. Về đánh giá cảm quan, chất lượng củ sen của giống Vân Đài 1 ít xơ, bở, và phù hợp để trồng thu củ.
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế thu được từ các giống sen trong mô hình cho kết quả, giống sen Super cho hoa tươi làm cảnh, giống sen Mặt bằng cho thu hạt, giống sen Quan âm trắng cho thu ngó, và giống sen Vân Đài 1 cho thu củ. Ngoài ra, đề tài cũng thu hêm hoa để làm chè ướp sen. Mô hình trồng 4 giống sen, diện tích của sen Super và Mặt bằng mỗi giống là 1,0 ha, diện tích của giống Quan âm trắng và Vân Đài 1 mỗi giống là 0,5 ha tổng là 3,0 ha, với giá bán cho từng loại sản phẩm thô là hoa sen 3.000 đồng/bông, hạt sen 45.000 đồng/kg, ngó sen tươi 35.000 đồng/ kg, và củ sen tươi 30.000 đồng/ kg. Tổng thu 03 ha mô hình cũng đạt 667.250.000 đồng, trung bình 1ha thu được 272.416.666 đ. Tổng chi phí bao gồm nhân công, giống, điện, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, là 109.271.250 đồng/ ha. Như vậy trong 1 ha, lãi thuần đạt 113.145.416 đồng. So sánh bảng hiệu quả kinh tế của mô hình tại Hải Dương và Ninh Bình cho thấy, sen Super lấy hoa trồng ở Ninh Bình cho năng suất cao hơn ở Hải Dương nhưng mức cao hơn không đáng kể 500 bông/ha. Trong khi đó sen Mặt Bằng lấy hạt và sen Vân Đài 1 lấy củ được trồng ở Hải Dương cho năng suất cao hơn hẳn so với trồng ở Ninh Bình. Năng suất sen Mặt Bằng trồng ở Hải Dương cao hơn trồng ở Ninh Bình là 1.250 kg/ha, năng suất sen lấy củ trồng ở Hải Dương (Vân Đài 1) cao hơn trồng ở Ninh Bình (giống Kanasumi) rất nhiều, ở Ninh Bình năng suất là 5.120kg, ở Hải Dương là 14.380kg. So sánh hiệu quả kinh tế mô hình tại Hải Dương cao hơn tại Ninh Bình là 64.550.000 đồng. Có thể thấy ở Hải Dương rất phù hợp để trồng sen, hiệu quả kinh tế cảu mô hình đem lại còn cao hơn các vùng lân cận mà ban củ nhiệm đề tài đã thực hiện. Theo đánh giá của bà con nông dân cấy lúa tại khu vực việc trồng hoa sen trên cánh đồng trũng nâng cao hiệu quả kinh tế gấp 2,5 lần so với trồng lúa. Tuy nhiên các sản phẩm của mô hình này chỉ bán hoa tươi và 1 phần sản phẩm tươi khác, còn lại các sản phẩm hạt sen, củ sen, ngó sen, và lá sen sẽ được đưa vào xây dựng mô hình mô hình sơ chế các sản phẩm từ cây sen.
Mô hình sơ chế đã tiến hành cải tạo, bổ sung và hoàn thiện nhà xưởng và sơ chế, chế biến các sản phẩm từ cây hoa sen. Trong đó, đã thu được sản phẩm trà sen từ mô hình là 10.600 bông (vượt mức 60.000 bông ). Giá thành là 18.000 đ/bông, giá bán là 25.000 đông/bông chất lượng trà sen của đề tài được đánh giá cao. Về sơ chế hạt sen, sau khi hoa nở được 25 - 30 ngày là bắt đầu thu hoạch hạt sen, thời gian 1 lần thu hái dao động trong khoảng từ 3-5 ngày, khoảng cách giữa các lần thu hái là 1 ngày, thời gian thu hoạch kéo dài từ 60-80 ngày, sau đó cây sen tàn dần. Đề tài thu hoạch hạt sen thu ở giai đoạn già cứng, sau khi tách gương sen được phân loại, thì tiến hành đóng gói kín và hút chân không, bảo quản ở nơi khô ráo thoáng mát và vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Các sản phẩm hạt sau sơ chế là 1.550 kg, cao hơn so với yêu cầu đặt ra là 50kg. Về sơ chế ngó sen, sau khi cây sen trồng được 40-50 ngày là bắt đầu thu hoạch ngó sen. Thời gian 1 lần thu hái dao động trong khoảng từ 5 - 7 ngày/lần. Đề tài đã đưa vào 1.500kg ngó của giống Quan âm để xây dựng mô hình sơ chế, bảo quản ngó sen. Kết quả đã tạo ra 1.250 kg, ngó sen đã qua sơ chế (vượt hơn 50kg so với yêu cầu). Bên cạnh đó, nghiên cứu đưa vào 1.300 kg củ sen của giống sen Vân Đài 1 để xây dựng mô hình sơ chế, bảo quản củ sen, kết quả đã tạo ra 1.066 kg củ sen đã qua sơ chế (vượt hơn 66 kg so với yêu cầu). Tất cả các sản phẩm này đều đã được tiêu thụ hết.
Cùng với các kết quả nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu triển khai công tác tuyên truyền về đề tài và xây dựng và hoàn thiện 01 mô hình trồng, chăm sóc và khai thác các nhóm giống sen gắn với phát triển du lịch. Mô hình ứng dụng 4 nhóm giống đặc trưng: Sen Super (lấy hoa), Sen Mặt Bằng (lấy hạt), Sen Quan Âm trắng (lấy ngó), Sen Vân Đài 1 (lấy củ). Các giống đều sinh trưởng tốt, đạt năng suất theo chỉ tiêu kỹ thuật của đề tài; đồng thời mô hình được địa phương sử dụng làm điểm trình diễn phục vụ khách tham quan, trải nghiệm, góp phần hình thành sản phẩm du lịch nông nghiệp theo hướng sinh thái – văn hóa đặc thù. Có hàng nghìn lượt khách từ trong nước và nước ngoài tới tham quan mô hình sen. Nhờ lợi thế gần Đảo Cò (địa danh du lịch nổi tiếng của tỉnh Hải Dương), khi khách tới thăm Đảo Cò đều ghé qua mô hình sen chụp ảnh, check-in. Tất cả du khách đều rất hào hứng, chụp ảnh, thưởng hoa, thưởng trà. Đã xây dựng được 09 quy trình kỹ thuật (nhân giống, trồng – chăm sóc – thu hái, sơ chế sản phẩm) đã được xây dựng và được công nhận cấp cơ sở, bảo đảm tính khoa học, khả thi và phù hợp với điều kiện tỉnh Hải Dương; 01 mô hình sơ chế sản phẩm với năng lực: Ủ trà trong 10.060 bông sen; sơ chế 1.250 kg ngó sen; sơ chế 1.066 kg củ sen; bóc tách, phân loại 1.550 kg hạt sen.
Đề tài góp phần nâng cao nhận thức của người dân và chính quyền địa phương về giá trị kinh tế, sinh thái và văn hóa của cây sen. Mô hình sen gắn với du lịch đã bước đầu tạo việc làm thời vụ, mở rộng cơ hội trải nghiệm và dịch vụ du lịch, hỗ trợ tăng thu nhập cho các hộ tham gia. Kết quả đề tài là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ định hướng phát triển vùng sen và các mô hình du lịch sinh thái tại Hải Dương trong những năm tiếp theo.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu sử dụng thức ăn bổ sung thảo dược trong chăn nuôi gà đẻ để sản xuất “trứng... (26/01/2026)
- Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái... (23/01/2026)
- Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm từ... (21/01/2026)
- Nghiên cứu, chế tạo thiết bị phát hiện lái xe buồn ngủ dựa trên nền trí tuệ nhân... (19/01/2026)
- Nghiên cứu bào chế dung dịch hỗ trợ điều trị viêm mũi xoang từ Cây ngũ sắc Ageratum... (16/01/2026)
