Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 449
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may bền vững (09/03/2026)

Dệt may là ngành công nghiệp đóng góp lớn vào cuộc khủng hoảng khí hậu và sinh thái. Ngành dệt may sử dụng nhiều nguồn tài nguyên: nguyên liệu, nước, hóa chất, năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch, gây ô nhiễm trong toàn bộ chuỗi giá trị. Ngành dệt may cũng dựa trên nền văn hóa sản xuất và tiêu dùng quá mức, là ngành mà lực lượng lao động được trả lương thấp, phải đối mặt với tình trạng phân biệt đối xử, điều kiện làm việc không an toàn. Các số liệu báo cáo cho thấy, ngành Dệt may chịu trách nhiệm cho 2-8% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, có một báo cáo có thẩm quyền gần đây đưa ra con số là 4%.

Ngành dệt may cũng góp phần đáng kể vào tình trạng mất đa dạng sinh học thông qua các tác động mà nó gây ra cho các hệ sinh thái. Ngành này đóng một vai trò trong việc chặt phá hơn 150 triệu cây mỗi năm và sử dụng 93 tỷ mét khối nước (m3); tương đương với khoảng 4% lượng nước ngọt sử dụng hàng năm trên toàn cầu. Quá trình nhuộm và xử lý quần áo dẫn đến ô nhiễm nước, ảnh hưởng đến các nguồn nước cho người dân ở các quốc gia như Bangladesh, Indonesia, Uzbekistan, Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam và nhiều nước khác. Hơn nữa, 35% vi nhựa đại dương trên thế giới đến từ việc giặt quần áo từ sợi tổng hợp. Phần lớn trong số này là kết quả của việc tiêu dùng, đã tăng gấp đôi trong 15 năm qua là hậu quả của việc sản xuất nhiều sản phẩm hơn dẫn đến nhiều chất thải hơn. Công nhân ngành may mặc thường xuyên làm việc trong điều kiện không an toàn và phải chịu sự bóc lột, trả lương thấp một cách có hệ thống, lao động cưỡng bức, rủi ro sức khỏe nghiêm trọng và bị lăng mạ. Thực tế là phụ nữ chiếm phần lớn lực lượng lao động dệt may có nghĩa là họ bị ảnh hưởng không cân xứng bởi những vấn đề này. Ngành công nghiệp này có động lực tìm nguồn cung ứng từ các quốc gia rẻ nhất và từ những quốc gia có ít biện pháp bảo vệ nhất để giữ biên lợi nhuận thấp và khối lượng cao, càng làm tăng thêm tác động môi trường của ngành - sản phẩm càng rẻ thì nhu cầu càng cao, càng cần sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên. Hơn nữa, ngành thời trang phụ thuộc vào lực lượng lao động bị thiệt thòi, những người sẽ là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu tại quốc gia họ sinh sống, điều này nêu bật cách thức cơ cấu hiện tại của ngành thời trang duy trì bất công về khí hậu.

Với chuỗi giá trị dệt may đan cài, phức tạp và toàn cầu hóa, cần thiết một sự chuyển dịch để tạo ra sự thay đổi mang tính hệ thống được dẫn dắt bởi khoa học với đích đến chung là bền vững và tính tuần hoàn. Lộ trình hướng tới tính bền vững và tuần hoàn đặt ra một cách đi tốt hơn và được phối hợp tốt hơn cho mỗi bên liên quan để đạt được mục tiêu chung này. Để thực hiện việc chuyển đổi hướng tới ngành dệt may bền vững và tuần hoàn, Chính phủ các nước đã đưa ra các quy định, chính sách để đảm bảo các hoạt động của ngành đi đúng hướng. Ngành Dệt may cũng có rất nhiều bên tham gia khác đang nỗ lực hướng tới các mục tiêu mang tính chuyển đổi của ngành cũng như các tiến trình cần thiết trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ Make Fashion Circular của Quỹ Ellen MacArthur đến hoạt động của Chương trình nghị sự thời trang toàn cầu và Liên minh may mặc bền vững. Các thương hiệu cũng xây dựng các chính sách, tiêu chí để duy trì chuỗi cung ứng của mình đạt được các mục tiêu bền vững của mình, tăng cường hình ảnh của các thương hiệu. Các tổ chức phi chính phủ và chứng nhận cũng xây dựng các công cụ, tiêu chuẩn để thực hành bền vững tại các cơ sở và chuỗi cung ứng dệt may. Các nhà đổi mới, nghiên cứu đã cung cấp các giải pháp đổi mới công nghệ và giải pháp quản lý chuỗi cung ứng dệt may bền vững và tuần hoàn.

Để hướng tới ngành dệt bền vững và tuần hoàn sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể và những thay đổi ở từng giai đoạn trong chuỗi giá trị, liên quan đến những bên liên quan ở mọi quy mô và từ tất cả các phân khúc thị trường. Các mô hình kinh doanh bền vững sẽ phải được áp dụng trên quy mô rộng rãi, từ việc thiết kế sản phẩm, mua sắm nguyên vật liệu, sản xuất gia công, vận chuyển đến sử dụng và thải bỏ quần áo đều cần có sự quan tâm đúng mức. Chuyển đổi cách thiết kế quần áo, việc sử dụng các chất độc hại trong xử lý Dệt may sẽ phải được loại bỏ và các nguồn tài nguyên sẽ phải được sử dụng hiệu quả hơn nhiều, với sự chuyển hướng từ nhiên liệu hóa thạch sang các nguồn năng lượng và vật liệu tái tạo. Việc gia công xử lý hàng Dệt may cần phải được áp dụng các công nghệ sẵn có tốt nhất. Việc sử dụng hàng Dệt may sẽ phải được tối ưu hóa, bao gồm tuổi thọ dài hơn và các tùy chọn sử dụng nhiều hơn, cùng với việc tái chế được cải thiện đáng kể khi vật liệu đạt đến cuối đời của chúng.

Dệt May là một trong các ngành công nghiệp, xuất khẩu có kim ngạch và tốc độ tăng trưởng lớn nhất ở Việt Nam. Năm 2024, ngành đã mang lại giá trị xuất khẩu 43,57 tỷ USD cho nền kinh tế nước nhà, chiếm gần 15% tổng kim ngạch của cả nước. Tại Việt nam, quan điểm và mục tiêu trong Chiến lược phát triển ngành Dệt may đến năm 2030 và tầm nhìn 2035 với xuất khẩu tiếp tục là động lực chính, quan trọng cho phát triển và tăng trưởng ngành Dệt may; đẩy mạnh sản xuất sản phẩm có chất lượng, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế và trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc khu vực và quốc tế. Phát triển ngành Dệt may gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm xã hội, đảm bảo phù hợp mục tiêu phát triển bền vững và các cam kết quốc tế. Đến năm 2035, ngành Dệt may phát triển hiệu quả, bền vững theo mô hình kinh tế tuần hoàn, hoàn thiện chuỗi giá trị sản xuất trong nước, tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển được một số thương hiệu mang tầm khu vực và quốc tế.

Để đạt được mục tiêu trên ngành Dệt may cần xây dựng được các định hướng và giải pháp phát triển, xây dựng ngành Dệt may theo hướng bền vững. Tới năm 2035, ngành Dệt May Việt Nam sẽ trở thành điểm đến số 1 cho những khách hàng muốn tìm kiếm nguồn cung bền vững các sản phẩm dệt may không gây tác động có hại cho môi trường và con người. Ngành sẽ hoạt động một cách tuần hoàn, hiệu quả và bền vững trên khía cạnh sử dụng nước và năng lượng, áp dụng các thực hành xả nước thải và quản lý chất thải có trách nhiệm. Trước thực tế đó, CTCP - Viện Nghiên cứu Dệt may chủ trì thực hiện đề tài Nghiên cứu, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may bền vững, TS. Nguyễn Văn Thông làm chủ nhiệm.

Tác động tới khí hậu trong chuỗi giá trị hàng dệt may toàn cầu.

Kết quả của đề tài cung cấp thông tin về xu hướng sử dụng nguyên liệu, các công nghệ tiên tiến và xu hướng tiêu thụ sản phẩm Dệt may bền vững; giới thiệu các hệ thống quản lý nguyên liệu, hóa chất, nước thải và các chỉ tiêu bền vững của ngành Dệt may, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển bền vững, xây dựng hệ thống quản lý, chủ động trong đầu tư kỹ thuật và công nghệ để đáp ứng các yêu cầu của các thị trường đích, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.

Theo nghiên cứu, để thực hiện việc chuyển đổi hướng tới ngành dệt may bền vững và tuần hoàn, Chính phủ các nước đã đưa ra các quy định, chính sách để đảm bảo các hoạt động của ngành đi đúng hướng. Các bên liên quan trong ngành Dệt may đang nỗ lực hướng tới các mục tiêu mang tính chuyển đổi của ngành cũng như các tiến trình cần thiết trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ hoạt động của Chương trình nghị sự thời trang toàn cầu đến Liên minh may mặc bền vững. Các thương hiệu cũng xây dựng các chính sách, tiêu chí để duy trì chuỗi cung ứng của mình đạt được các mục tiêu bền vững của mình, tăng cường hình ảnh của các thương hiệu. Các tổ chức phi chính phủ và chứng nhận cũng xây dựng các công cụ, tiêu chuẩn để thực hành bền vững tại các cơ sở và chuỗi cung ứng dệt may. Các nhà đổi mới, nghiên cứu đã cung cấp các giải pháp đổi mới công nghệ và giải pháp quản lý chuỗi cung ứng dệt may bền vững và tuần hoàn. Để hướng tới ngành dệt bền vững và tuần hoàn sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể và những thay đổi ở từng giai đoạn trong chuỗi giá trị, liên quan đến những bên liên quan ở mọi quy mô và từ tất cả các phân khúc thị trường. Cần áp dụng rộng rãi các mô hình kinh doanh bền vững, từ việc thiết kế sản phẩm, mua sắm nguyên vật liệu, sản xuất gia công, vận chuyển đến sử dụng và thải bỏ quần áo đều cần có sự quan tâm đúng mức. Chuyển đổi cách thiết kế quần áo, loại bỏ việc sử dụng các chất độc hại trong xử lý Dệt may và sử dụng hiêu quả hơn các nguồn tài nguyên, với sự chuyển hướng từ nhiên liệu hóa thạch sang các nguồn năng lượng và vật liệu tái tạo. Cần áp dụng các công nghệ sẵn có tốt nhất trong gia công xử lý hàng Dệt may và việc sử dụng hàng dệt may cần phải được tối ưu hóa, bao gồm tuổi thọ dài hơn và các tùy chọn sử dụng nhiều hơn, cùng với việc tái chế được cải thiện đáng kể khi vật liệu đạt đến cuối đời của chúng.

Trong những năm gần đây, công nghiệp Dệt May là một trong các ngành xuất khẩu có kim ngạch và tốc độ tăng trưởng lớn nhất ở Việt Nam. Năm 2024, ngành đã mang lại giá trị xuất khẩu 43,57 tỷ USD, chiếm gần 15% tổng kim ngạch của cả nước. Tại Việt Nam, quan điểm và mục tiêu trong Chiến lược phát triển ngành Dệt may đến năm 2030 và tầm nhìn 2035 với xuất khẩu tiếp tục là động lực chính, quan trọng cho phát triển và tăng trưởng ngành Dệt may; đẩy mạnh sản xuất sản phẩm có chất lượng, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế và trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc khu vực và quốc tế. Phát triển ngành Dệt may gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm xã hội, đảm bảo phù hợp mục tiêu phát triển bền vững và các cam kết quốc tế. Đến năm 2035, ngành Dệt may phát triển hiệu quả, bền vững theo mô hình kinh tế tuần hoàn, hoàn thiện chuỗi giá trị sản xuất trong nước, tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển được một số thương hiệu mang tầm khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh các FTA đã được thông qua giữa Việt Nam với các nước và khu vực đối tác, ngành dệt may cần có những bước đi mạnh mẽ theo hướng tự chủ hơn trong nguồn cung nguyên liệu, đặc biệt là phát triển sản xuất vải trong nước để đáp ứng quy tắc xuất xứ của EVFTA. Ngành Dệt may Việt Nam đã đưa ra các cam kết, định hướng phát triển ngành dệt may bền vững và mô hình tuần hoàn, nhưng mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi để tạo ra một tương lai bền vững và có đạo đức hơn.

Để đạt được mục tiêu trên ngành Dệt may Việt Nam cần thực hiện được các định hướng và giải pháp phát triển theo hướng bền vững và tuần hoàn. Tới năm 2035, ngành Dệt May Việt Nam sẽ trở thành điểm đến số 1 cho những khách hàng muốn tìm kiếm nguồn cung bền vững các sản phẩm dệt may không gây tác động có hại cho môi trường và con người. Ngành Dệt may sẽ hoạt động một cách tuần hoàn, hiệu quả và bền vững trên khía cạnh sử dụng nước và năng lượng, áp dụng các thực hành phát thải bền vững. Để thực hiện lộ trình phát triển bền vững và tuần hoàn cho sản xuất dệt may là thực sự tuân thủ các nguyên tắc và thực hành tốt nhất về bảo vệ môi trường, xanh hóa sản xuất, tiết kiệm tài nguyên không thể tái tạo như nước, năng lượng, sử dụng vật liệu tái chế và quản lý hóa chất hiệu quả. Công việc đã chỉ ra triển vọng cũng như các thách thức, cơ hội của ngành Dệt May Việt Nam và nêu bật các nội dung, nhiệm vụ mà ngành Dệt may cần thực hiện để chuyển đổi hướng tới phát triển bền vững và tuần hoàn. Tuy nhiên, để thực sự đạt được sự chuyển đổi ngành Dệt May là phải có sự phối hợp hành động của tất cả các bên liên quan, từ Các cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu, đào tạo, tài chính… và quan trọng nhất là các doanh nghiệp trong ngành Dệt may cùng hướng tới một mục tiêu chung là một ngành Dệt may Việt Nam phát triển bền vững và tuần hoàn.

Để hiện thực hóa nền kinh tế thời trang tuần hoàn, có một số vấn đề mang tính hệ thống cần được giải quyết. Việt Nam cần tạo ra và thực thi quản trị và luật pháp hướng tới dệt may bền vững và tuần hoàn. Nói cách khác, một hệ thống đảm bảo tính minh bạch, thu thuế tài nguyên, đặt ra các yêu cầu tối thiểu đối với các sản phẩm Dệt may trên thị trường và cấm những sản phẩm không đáp ứng chúng. Chính phủ đã thúc đẩy tất cả những đổi mới chủ yếu và chỉ có Chính phủ mới có thể thay đổi luật pháp để thúc đẩy sự thay đổi. Chính sách là chìa khóa để tạo ra một hệ thống quản trị mới hoạt động như một đòn bẩy mạnh mẽ trong việc thúc đẩy sự thay đổi cùng với các khái niệm, sự hợp tác và triệu tập trước cạnh tranh, tăng cường và tổng hợp nhu cầu, xây dựng năng lực, nâng cao tiếng nói của người lao động và cộng đồng, cũng như tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.