Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 19810 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất khoai tây KT7 năng suất cao, kháng bệnh mốc sương tại Hải Dương (23/02/2026)
Cây khoai tây có tên khoa học là Solamum tuberosum. L, thuộc họ cả Solanaceae vừa là cây lương thực, vừa là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất. Khoai tây được trồng ở khắp các châu lục và trồng phổ biến ở trên 160 nước trên Thế giới với tổng diện tích năm 2023 đạt 16.799.108 ha, năng suất bình quân đạt 22,804 tấn/ha, sản lượng thu được 383.082.707,4 tấn. Ở Việt Nam, diện tích trồng khoai tây những năm gần đây dao động từ 18.800 - 21.600 ha, năng suất bình quân dao động từ 14,27 - 16,54 tấn/ha và sản lượng cũng dao động từ 294.090 - 323.684 tấn. Với diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây như vậy còn rất thấp chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của cây trồng này trong điều kiện sản xuất ở Việt Nam. Thực tế, sản xuất khoai tây mới chỉ cung cấp được 40% nhu cầu tiêu dùng khoai tây trong nước, hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu gần 100.000 tấn mỗi năm. Khoai tây là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 80 - 90 ngày, tiềm năng năng suất cao và cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số loại cây trồng khác, nên khoai tây chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng vụ đông ở các tỉnh phía Bắc.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Bắc Bộ, thuộc khu vực tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và là điểm trung chuyển giữa thành phố cảng Hải Phòng và Thủ đô Hà Nội, tạo điều kiện cho giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Sản xuất khoai tây ở Hải Dương trong những năm gần đây giảm xuống còn 746 ha ở năm 2023, năng suất bình quân đạt 14.46 tấn/ha, sản lượng thu được 10.788 tấn. Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích sản xuất khoai tây ở nước ta nói chung và Hải Dương nói riêng bị giảm là do: Tốc độ phát triển đô thị hóa quả nhanh và phát triển các khu công nghiệp quá lớn, nguồn nhân lực lao động đang chuyển dịch sang các ngành nghề từ phi nông nghiệp hoặc phục vụ công nghiệp. Do sử dụng giống không đảm bảo chất lượng lên năng suất thấp, củ giống đã bị thoái hóa, điều kiện bảo quản giống kém, kỹ thuật canh tác chưa hoàn thiện, chưa ứng dụng sản xuất khoai tây phục vụ cho chế biến công nghiệp... trong khi chi phí đầu tư cho sản xuất khoai tây lại khá cao, đặc biệt là chi phí về giống và phân bón dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm. Vì vậy, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất khoai tây thì việc sử dụng giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, sạch bệnh và ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất, liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm khoai tây phục vụ cho ăn tươi và chế biến công nghiệp là rất cần thiết. Bên cạnh đó do thiếu biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp cho sản xuất khoai tây.
Trong những năm gần đây, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã nghiên cứu, lai tạo và chọn lọc ra được nhiều giống khoai tây mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp cho ăn tươi và chế biến công nghiệp trong đó có giống khoai tây KT7 cho năng suất cao, chất lượng khá lai với mẹ là dòng 106. Giống KT7 đã được xác định mang gen kháng bệnh mốc sương R1 và được sàng lọc bằng chỉ thị phân tử liên kết với gen kháng bệnh mốc sương BA213c14t7 hay LP2. Giống KT7 có thời gian sinh trưởng từ 85–90 ngày, sinh trưởng phát triển tốt, dạng cây nửa đúng, thân cây mập, khỏe, bản lá to, tán lá xòe, màu sắc thân và lá xanh nhạt, diện tích tán lá che phủ luống đạt 100% ở giai đoạn 50 - 60 ngày sau trồng, chiều cao cây đạt từ 60-80cm, số thân chính khóm từ 4-5 thân... Giống KT7 chống chịu tốt với bệnh mốc sương ở (điểm 1-3), nhiễm nhẹ với bệnh héo xanh, virus và một số sâu gây hại như rệp, nhện đỏ, bọ trĩ.... Giống KT7 có dạng củ hình oval, mắt cả nông, vỏ và ruột cả màu vàng, tiềm năng năng suất cao đạt 21.33 – 25.08 tấn/ha ổn định qua các vụ trồng. Tỷ lệ cỡ củ thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (đường kinh từ ≥ 45-50mm) chiếm 50-70%. Hàm lượng chất khô củ từ 18,6-19.4%, đường khi thấp 0,30-0.48%. Chất lượng tốt, ăn bờ và thơm được thị trưởng chấp nhận cho nhu cầu ăn tươi. Giống KT7 có dạng củ hình oval, mắt củ nông, vỏ và ruột củ màu vàng, tiềm năng năng suất cao đạt 21,33 - 25,08 tấn/ha ổn định qua các vụ trồng. Tỷ lệ cỡ củ thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (đường kinh từ ≥ 45-50mm) chiếm 50 - 70%. Hàm lượng chất khô củ từ 18,6 - 19,4%, đường khử thấp 0,30 - 0,48%. Chất lượng tốt, ăn bở và thơm được thị trường chấp nhận cho nhu cầu ăn tươi. Giống 2 khoai tây KT7 được Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất thử ở vụ Đông các tỉnh Đồng bằng sông Hồng theo Quyết định số 213/QĐ-TT-CLT ngày 04/07/2019. Giống KT7 được Viện Cây lương thực và CTP Tự công bố lưu hành cho sản xuất vụ Đông tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng theo Quyết định số 292/QĐ-VCLT-KH ngày 05/11/2021. Vì vậy, giống khoai tây KT7 trên áp dụng vào sản xuất tại tỉnh Hải Dương là cần thiết, có ý nghĩa khoa học. Trước thực trạng đó, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chủ trì nghiên cứu thực hiện đề tài Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất khoai tây KT7 năng suất cao, kháng bệnh mốc sương tại Hải Dương, ThS. Nguyễn Đạt Thoại làm chủ nhiệm.

Tập huấn kỹ thuật tại xã Hồng Lạc, Thanh Hà.
Trong khuôn khổ nghiên cứu đã xây dựng thành công 6 mô hình sản xuất khoai tây KT7 trên tổng diện tích 60 ha, thu hút sự tham gia của hơn 280 hộ nông dân. Các mô hình này đã triển khai chủ yếu tại 5 xã của các huyện Thanh Hà, Tứ Kỳ và Ninh Giang. Cụ thể, ở vụ đông năm 2024, các mô hình tập trung tại 3 huyện trên, với quy mô trung bình mỗi xã khoảng 10 ha, số hộ tham gia từ 1 đến 6 hộ, tổng diện tích toàn mô hình đạt 60 ha. Đánh giá sơ bộ cho thấy, mô hình đã cho năng suất trung bình đạt từ 18 đến 23 tấn/ha, cao hơn mức trung bình của giống khoai tây truyền thống trên địa bàn tỉnh khoảng 3-5 tấn/ha. Trong đó, năng suất trung bình của khoai tây KT7 đạt khoảng 21,05 tấn/ha, cao hơn 22,5% so với giống chính hiệu Mê Linh (giống nhập ngoại phổ biến). Ngoài ra, lượng khoai tây đạt chuẩn để tiêu thụ trong nước, chủ yếu là khoai tươi và khoai sơ chế, ước đạt khoảng 1.132,7 tấn, mang lại doanh thu khoảng hơn 8,9 tỷ đồng, một con số phản ánh rõ hiệu quả kinh tế khả thi của mô hình.
Theo kết quả khảo nghiệm, giống khoai tây KT7 nổi bật về khả năng kháng bệnh mốc sương so với giống nhập ngoại phổ biến như Marabel. Các mẫu giống thu thập từ các mô hình trồng thực tế cho kết quả phân biệt rõ các đặc tính như năng suất, khả năng chống chịu bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tại Hải Dương.
Trong quá trình theo dõi từ năm 2022 đến 2024, các mẫu giống đạt năng suất trung bình trong khoảng 18-20 tấn/ha, hoàn toàn phù hợp các mục tiêu đề ra ban đầu. Đặc biệt, có những vụ đạt tới 23 tấn/ha, cao hơn hẳn năng suất trung bình của các giống khoai tây nội địa cũ và các loại giống nhập ngoại kém kháng bệnh khác.
Phẩm chất sản phẩm của giống KT7 còn đáp ứng các tiêu chuẩn về độ đồng đều, hình dạng củ, chất lượng bảo quản và khả năng tiêu thụ trong nước. Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá cao khả năng kháng bệnh mốc sương trên 80% so với các giống cũ, qua đó giảm thất thoát do dịch bệnh, giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc phòng trừ bệnh.
Nghiên cứu về các yếu tố kỹ thuật, quy trình canh tác cho thấy, kỹ thuật canh tác của mô hình đã được hoàn thiện, phù hợp với điều kiện tự nhiên của Hải Dương. Quy trình bao gồm các bước chuẩn bị đất, chọn giống, kỹ thuật trồng, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch và bảo quản. Trong đó, nổi bật là việc xử lý củ giống để khử trùng, cắt củ phù hợp, áp dụng kỹ thuật tưới nước hợp lý, phân bón cân đối và phòng trừ sâu bệnh theo hướng dẫn của Trung tâm nghiên cứu khoai tây quốc gia. Các mô hình cũng chú trọng đến việc chú ý tới tập quán canh tác của địa phương, đảm bảo phù hợp với thói quen của người dân. Quy trình bón phân đã đề xuất lượng phân N, P, K tương ứng khoảng 150 kg/ha, kết hợp phân chuồng và phân bón hợp lý, tránh lãng phí và gây ô nhiễm môi trường. Các biện pháp phòng bệnh ngoài việc sử dụng giống kháng bệnh còn bao gồm việc xử lý đất, lựa chọn thời vụ phù hợp, và kiểm soát côn trùng gây hại.
Đánh giá về hiệu quả kinh tế và năng lực tiêu thụ, kết quả mô hình cho thấy, năng suất cao gắn liền với khả năng tiêu thụ ổn định của sản phẩm. Tổng lượng khoai tây thu hoạch đạt khoảng 1.132,7 tấn, linh hoạt từ 18 đến 23 tấn/ha, phù hợp với nhu cầu tiêu thụ trong nước, nhất là trong thị trường nội địa có xu hướng tiêu dùng tươi ngày càng cao.
Giá bán trung bình khoảng 8.935,5 đồng/kg, dựa theo thị trường tiêu thụ hiện tại, giúp người trồng đạt lợi nhuận trung bình khoảng 150 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí. Như vậy, lợi nhuận bình quân của các hộ nông dân tham gia mô hình có thể đạt từ 15 triệu đến 20 triệu đồng mỗi ha, tương đương mức tăng khoảng 30 - 40% so với phương án trồng khoai tây truyền thống.
Thành công của mô hình còn thể hiện qua việc hình thành các liên kết tiêu thụ, hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị và giảm thiểu tồn kho agribusiness.
Bên cạnh các thành quả đạt được, mô hình vẫn đối mặt với một số khó khăn và thách thức. Đầu tiên là việc bảo quản khoai tây sau thu hoạch để tránh giảm phẩm chất và hao hụt, hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào cơ sở chế biến và bảo quản của các doanh nghiệp lớn. Thứ hai, việc nhân rộng mô hình còn gặp khó khăn do hạn chế về vốn, kỹ thuật, và kinh nghiệm của người dân địa phương, đặc biệt là trong việc áp dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến một cách đều đặn và thống nhất. Thứ ba, các điều kiện tự nhiên như khí hậu bất thường, mưa nhiều, hoặc thời tiết khắc nghiệt cũng ảnh hưởng đến năng suất và khả năng kháng bệnh của giống mới. Do đó, cần có các giải pháp về kỹ thuật canh tác phù hợp để đảm bảo duy trì hiệu quả của mô hình trong dài hạn. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của người nông dân về lợi ích của việc chuyển đổi kỹ thuật, đồng thời tăng cường công tác tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật sẽ là yếu tố quyết định thành công bền vững của đề tài.
Dựa trên các số liệu khảo sát thực tế cùng kết quả mô hình, có thể khẳng định rằng giống khoai tây nội địa KT7, khi được gieo trồng theo quy trình đã hoàn thiện, có khả năng đạt năng suất cao, kháng bệnh mốc sương, phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán của nông dân Hải Dương.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu kéo dài thời gian bảo quản cà chua tại tỉnh Hải Dương bằng công nghệ tro... (26/02/2026)
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân... (25/02/2026)
- Xây dựng mô hình sản xuất thương phẩm giống nghệ N8, gắn với liên kết tiêu thụ sản... (24/02/2026)
- Xây dựng mô hình trồng, sơ chế dược liệu ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) theo... (13/02/2026)
- Nghiên cứu phát triển sản phẩm hỗ trợ hạ đường huyết và tăng cường miễn dịch từ đông... (12/02/2026)
