Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 6492
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu xây dựng quy trình sáng lọc và điều trị thiếu Vitamin D ở phụ nữ mang thai đến khám, quản lý thai nghén và sinh con tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng (07/01/2026)

Vitamin D là một vi chất tan trong chất béo, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của xương, giúp điều hòa sự phát triển của tế bào, hỗ trợ chức năng miễn dịch… Thiếu vitamin D không chỉ gây ra các rối loạn chuyển hóa calci và phospho, các bệnh lý ở xương. Trong vài thập kỷ gần đây mối liên quan của thiếu vitamin D với các bệnh lý khác nhau được phát hiện, trong đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi và sức khỏe của thai phụ là đáng kể. Vitamin D được tổng hợp trong cơ thể khi da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc từ chế độ ăn uống hay các sản phẩm bổ sung. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vitamin D rất phổ biến trên thế giới, kể cả ở các nước vùng nhiệt đới và phụ nữ mang thai có nguy cơ cao bị thiếu vitamin D. Tỷ lệ thiếu vitamin D nặng ở phụ nữ mang thai trên thế giới dao động từ 18 đến 84%. Ở Việt Nam thiếu vitamin D ở phụ nữ cũng rất phổ biến, với tỷ lệ là 58,6% tại nội thành Hà Nội và 52,0% tại nông thôn Hải Dương ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, 46% ở phụ nữ trưởng thành tại Thành phố Hồ Chí Minh và 60,0% ở phụ nữ mang thai tại vùng nông thôn Hà Nam.

Thực tế tại Hải Phòng, chưa có cơ sở nào đưa việc sàng lọc và chẩn đoán thiếu hụt Vitamin D vào thực hành lâm sàng tại đơn vị mình. Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là bệnh viện tự chủ nhóm I, là bệnh viện đầu ngành Phụ sản của Thành phố Hải Phòng, được Bộ Y tế giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến chuyên ngành sản phụ khoa cho các tỉnh: Thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai, Hưng Yên. Do đó, việc triển khai đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phòng ngừa, điều trị thai phụ thiếu Vitamin D tại Hải Phòng không chỉ giúp chuẩn hóa các quy trình cho bệnh viện trong thành phố mà còn giúp cho việc hướng dẫn các bệnh viện chuyên ngành sản phụ khoa các tỉnh khác thực hiện tốt chương trình chăm sóc toàn diện cho phụ nữ mang thai.

Đứng trước thực trạng trên Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng đã tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình sáng lọc và điều trị thiếu Vitamin D ở phụ nữ mang thai đến khám, quản lý thai nghén và sinh con tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng” đề tài do TS.BS Lưu Vũ Dũng làm chủ nhiệm. Đề tài được triển khai thu được kết quả cụ thể như sau:

(1) Một số vấn đề lý thuyết về vấn đề nghiên cứu Thiếu hụt vitamin D là một tình trạng phổ biến ở cả quần thể chung và phụ nữ mang thai. Tỷ lệ thiếu hụt vitamin D trong thai kỳ được báo cáo dao động từ 8% đến 100%, phụ thuộc vào vùng địa dư và ngưỡng nồng độ vitamin D dùng để chẩn đoán. Với vai trò điều hòa miễn dịch, điều hòa chuyển hóa vitamin D được cho là có những vai trò quan trọng trong việc duy trì thai kỳ bình thường. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy thiếu vitamin D trong thai kỳ có liên quan đến nhiều kết cục bất lợi cho cả bà mẹ và thai nhi. Có mối liên quan giữa tình trạng thiếu Vitamin D ở phụ nữ mang thai với tăng nguy cơ sinh non, đái tháo đường thai kì, tiền sản giật, thai nhỏ hơn so với tuổi thai, trẻ sơ sinh nhẹ cân. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vitamin D trong thai kỳ với việc cải thiện những kết cục này. Cho đến nay chưa có sự đồng thuận về ngưỡng 25(OH)D huyết tương trong đánh giá tình trạng thiếu vitamin D. Các tác giả, các tổ chức y tế khác nhau đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá trình trạng vitamin D khác nhau. Cũng chưa có sự thống nhất về nhu cầu vitamin D, liều vitamin D cho dự phòng và điều trị thiếu vitamin D. Trong gian gần đây các tổ chức y tế đưa ra các khuyến cáo tăng mức bổ sung vitamin D. Năm 1997 Viện Y học Mỹ khuyến cáo mức đủ vitamin D là 200 UI/ngày cho phụ nữ mang thai từ 14 – 50 tuổi. Đến năm 2010 Viện Y học Mỹ đã đưa ra khuyến cáo mới, nâng mức vitamin D lên 600 UI/ngày cho phụ nữ mang thai và cho con bú. Tại Việt Nam, theo Hướng dẫn Quốc gia về dinh dưỡng cho Phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú, liều khuyến nghị bổ sung vitamin D trong thai kỳ là 800 IU/ngày.

Hiện nay, trên thế giới đang tập trung nghiên cứu về tình trạng thiếu Vitamin D ở thai phụ và đề xuất các liều Vitamin bổ sung phù hợp. Tuy nhiên, ở trong nước chưa có đề tài nào đánh giá về tình trạng này. Do đó, đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên trong nước về đánh giá thực trạng và điều trị thiếu hụt Vitamin D ở thai phụ quý I thai kì. Hiện nay Bộ y tế chưa có hướng dẫn cụ thể về điều trị thai phụ thiếu hụt Vitamin D. Việc xây dựng phác đồ điều trị bổ sung và duy trì cho các thai phụ bị thiếu hụt vitamin D tại Hải Phòng dựa vào nồng độ xét nghiệm 25(OH) huyết tương, yếu tố nguy cơ... là cần thiết. Từ đó, hoàn thiện quy trình điều trị phù hợp đảm bảo hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng đái tháo đường thai kì, tiền sản giật/sản giật cho mẹ và các biến chứng sinh non, con nhẹ cân...

(2) Kết quả sàng lọc và phân loại thai phụ bị thiếu hụt vitamin D 1.000 thai phụ khỏe mạnh đến khám và quản lý thai nghén ở quý I tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, đồng ý tham gia nghiên cứu, đảm bảo các tiêu chí lựa chọn và loại trừ mẫu được tư vấn làm hồ sơ nghiên cứu, thực hiện lấy máu làm xét nghiệm vitamin D để đánh giá. Kết quả sàng lọc và phân loại dựa vào kết quả xét nghiệm vitamin D như sau:

Tỷ lệ và phân loại tình trạng thiếu hụt vitamin D: Thai phụ bình thường: 147/1.000 thai phụ (14,7%); Thai phụ thiếu hụt nhẹ: 463/1.000 thai phụ (46,3%); Thai phụ thiếu hụt nặng: 390/1.000 thai phụ (39,0%).

Một số yếu tố liên quan đến thiếu hụt vitamin D: Thai phụ có thời gian tiếp xúc nắng > 1 giờ/ngày giảm nguy cơ thiếu vitamin D khoảng 63% so với nhóm < 1 giờ (p=0,002); Thai phụ mang thai vào mùa nắng giảm nguy cơ thiếu vitamin D khoảng 80% so với mùa ít nắng (p<0,0001); Thai phụ con so có nguy cơ thiếu vitamin D cao gấp khoảng 2,4 lần so với con rạ (p=0,001).

(3) Kết quả điều trị thiếu Vitamin D ở phụ nữ mang thai quí I tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

- Đánh giá sự thay đổi nồng độ vitamin D sau điều trị: Sau khi bổ sung vitamin D, nồng độ vitamin D huyết thanh của các thai phụ tăng lên rõ rệt so với thời điểm quý I thai kỳ. Ở nhóm thiếu nhẹ, nồng độ trung bình tăng từ 58,53 ± 6,03 nmol/L lên 79,56 ± 11,67 nmol/L, với mức tăng trung bình 21,04 nmol/L. Ở nhóm thiếu nặng, nồng độ tăng từ 40,67 ± 6,59 nmol/L lên 74,74 ± 13,33 nmol/L, với mức tăng trung bình 34,07 nmol/L. Sự khác biệt trước và sau bổ sung đều có ý nghĩa thống kê rất cao (p < 0.001). Kết quả cho thấy việc bổ sung vitamin D giúp cải thiện đáng kể tình trạng thiếu hụt vitamin D huyết thanh ở thai phụ, đặc biệt hiệu quả hơn ở nhóm thiếu nặng ban đầu.

- Đánh giá tính an toàn khi sử dụng thuốc điều trị: Nồng độ Canxi huyết thanh không vượt ngưỡng an toàn sau bổ sung vitamin D; Không thai phụ nào có tác dụng phụ nghiêm trọng trong quá trình bổ sung vitamin D.

- Các yếu tố liên quan đến tình trạng Vitamin D huyết thanh sau bổ sung: Nhóm thai phụ có nồng độ Vitamin D sau bổ sung vẫn ở mức thiếu có nồng độ Vitamin D trung bình ở quí I thấp hơn nhóm thai phụ nồng độ Vitamin D sau bổ sung trở về bình thường, (46.92 ± 10.50 so với 52.37 ± 10.92; p < 0.00000001). Nhóm thai phụ có nồng độ Vitamin D sau bổ sung vẫn ở mức thiếu có tỷ lệ tuân thủ bổ sung Vitamin D thấp hơn so với nhóm có nồng độ Vitamin D sau bổ sung trở về ngưỡng bình thường (76.7% so với 85.9%; p = 0.001).

- Liên quan giữa nồng độ Vitamin D huyết thanh và một số kết cục bất lợi của thai kỳ: Tuổi có liên quan thuận với nguy cơ ĐTĐ thai kỳ với OR = 1.044, KTC: 1,014 - 1,075; p=0,004), cho thấy thai phụ cứ tang thêm 1 tuổi liên quan với tăng khoảng 4,4% odds (nguy cơ) ĐTĐTK; BMI có liên quan thuận với nguy cơ ĐTĐ thai kỳ với OR = 1,172, KTC: 1,106 - 1,243; p<0,001) cho thấy nhóm thai phụ tăng 1 đơn vị BMI liên quan với tăng khoảng 17,29% odds (nguy cơ ) ĐTĐ thai kỳ; Tình trạng thiếu vitamin D mức độ nặng liên quan thuận với nguy cơ ĐTĐ thai kỳ với OR= 2,34, KTC: 1.379 – 3.974, p=0,002, cho thấy thai phụ thiếu hụt nặng liên quan với tăng 2,34 lần odds (nguy cơ) ĐTĐ thai kỳ.

(4) Các giải pháp dự phòng thiếu vitamin D ở phụ nữ mang thai: Giải pháp giáo dục, nâng cao nhận thức của thai phụ và nhân viên y tế; Giải pháp bổ sung dinh dưỡng giàu vitamin D hợp lý; Giải pháp tăng cường hấp thu vitamin D bằng phơi nắng hợp lý; Giải pháp tăng cường vận động phù hợp; Giải pháp bổ sung vitamin D dạng thuốc hoặc thực phẩm chức năng.

Kết quả của đề giúp cho khi sàng lọc và điều trị thiếu hụt vitamin D ở phụ nữ mang thai sẽ giảm chi phí y tế do phòng ngừa các biến chứng như tiền sản giật, sinh non và các bệnh lý ở trẻ sơ sinh, đồng thời cải thiện sức khỏe lâu dài cho cả mẹ và con. Việc bổ sung vitamin D giúp thai nhi phát triển xương và răng khỏe mạnh, tăng cường hệ miễn dịch, và giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính sau này.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.