Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 451 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Ứng dụng giải pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (13/03/2026)
Cây thanh long (Hylocerus undulatus) thuộc họ xương rồng (Cactaceae), có nguồn gốc ở Trung Mỹ, là một trong những cây ăn quả quan trọng của nước ta; được trồng nhiều ở các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang và rải rác ở một số tỉnh khác trong đó có thành phố Hải Phòng. Trên địa bàn thành phố, cây thanh long được trồng rải rác ở một số phường ở phía Tây thành phố như Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An (trước đây là 19 xã, phường thuộc tỉnh Hải Dương cũ, bao gồm Bến Tắm, Hoàng Hoa Thám, Cổ Thành, Lê Lợi, Chí Minh, Văn Đức, …). Trong đó diện tích lớn nhất là phường Nguyễn Trãi hiện nay. Tính đến năm 2024 chỉ tính riêng ở các địa phương phía Tây thành phố (tỉnh Hải Dương cũ) đã trồng và chăm sóc được 21.770 ha cây ăn quả (Chí Linh cũ: 6.587 ha), trong đó diện tích trồng cây thanh long toàn tỉnh đạt 410 ha (Chí Linh cũ: 191 ha), trong đó có 398 ha cho thu hoạch, sản lượng thanh long đạt 4.641 tấn.
Những năm gần đây, cùng với sự chủ động của nông dân, chính quyền và ngành nông nghiệp địa phương đã triển khai một số chương trình để phát triển thương hiệu Thanh long Chí Linh (Thanh long ruột đỏ Bến Tắm, Hoàng Hoa Thám – đạt thương hiệu sản phẩm OCOP 3 sao), nâng cao chất lượng (mở rộng diện tích sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP) đối với loại cây ăn quả chủ lực này. Phát triển cây ăn quả là một mục tiêu lớn của ngành sản xuất nông nghiệp tại một số địa phương trên địa bàn thành phố nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng lấy cây ăn quả chủ lực làm trung tâm. Điều đáng nói là mô hình trồng cây ăn quả đã và đang phát huy được hiệu quả rõ rệt khi bình quân mỗi ha trồng thanh long có thu nhập từ 209 đến 348 triệu đồng/ha/năm đóng góp rất lớn cho kinh tế một số địa phương (phường Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An) nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung.
Tuy nhiên, cùng với việc đầu tư thâm canh cao nhằm tăng năng suất, nông dân đang phải đối mặt với không ít khó khăn trong phòng trừ sâu bệnh hại trên cây thanh long như bệnh đốm nâu, bệnh thán thư, bệnh thối cành, thối rễ do tuyến trùng, ruồi hại quả, rệp sáp, bọ trĩ … đã gây thiệt hại lớn về năng suất và chất lượng thanh long. Việc sử dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật đã có tác động xấu đến sức khỏe của người sản xuất và người tiêu dùng, ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học, gây ô nhiễm môi trưởng, làm giảm thương hiệu Thanh long Chí Linh. Đứng trước thực tế trên, Trung tâm Đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học – công nghệ Hải Phòng triển khai đề tài “Ứng dụng giải pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương” do KS Vũ Văn Tân làm chủ nhiệm.
Nhóm nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng, thành phần, mức độ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; thực trạng sản xuất thanh long tại địa phương về các chỉ tiêu như diện tích, năng suất, sản lượng, biện pháp canh tác, những thuận lợi và khó khăn gặp phải trong quá trình sản xuất tiêu thụ thanh long tại địa phương. Điều tra thành phần, mức độ, quy luật phát sinh và gây hại của sâu, bệnh hại chính trên cây thanh long từ đó đề ra được biện pháp phòng trừ thích hợp. Cụ thể như sau: Trên cơ sở khảo sát đánh giá thực trạng, đề tài đã xác định thành phần, mức độ sâu bệnh hại chính trên thanh long tại phường Nguyễn Trãi thành phố Hải Phòng và đề xuất biện pháp phòng trừ dựa trên các thực nghiệm được bố trí tại địa phương. Trong đó, đã vận dụng những kết quả nghiên cứu của Viện BVTV và những quy trình đã đề xuất, được áp dụng thành công, đem lại hiệu quả cao trong phòng trừ sâu, bệnh hại trên cây thanh long ở các địa phương khác cũng như trong phòng trừ các đối tượng sâu, bệnh hại tương tự trên cây trồng khác… một cách phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai và tập quán canh tác của người dân tại địa phương. Đồng thời, kế thừa những kết quả đã thực hiện từ dự án trước đây của tỉnh. Các sản phẩm nông dược được lựa chọn và đề xuất cho người nông dân phải nằm trong danh mục cho phép, ít độc hại, ưu tiên và khuyến khích sử dụng các chế phẩm sinh học, phân bón vi sinh, bẫy/bả sinh học… Sản phẩm được khuyến cáo phải dễ tìm kiếm, dễ mua tại địa phương.
Thực nghiệm kỹ thuật cắt tỉa cành già trên những cây thanh long đã lâu năm, nhằm cải thiện hình thái tán (tăng độ thông thoáng và giảm bớt những cành già, cành sâu bệnh, cành vô hiệu). Thực nghiệm kỹ thuật bao quả thanh long ở các thời điểm khác nhau để cải thiện mẫu mã quả, phòng chống sâu bệnh hại. Thực nghiệm các biện pháp sinh học đối với các đối tượng sâu, bệnh có nguồn gốc trong đất: Phối trộn một số chế phẩm sinh học với phân chuồng trước khi xử lý vào đất; thực nghiệm một số loại phân vi sinh, nhằm tăng cường chất lượng và mẫu mã quả thanh long tại địa phương. Thực nghiệm các biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu, bệnh chính hại thanh long tại Chí Linh, bao gồm thử nghiệm thuốc trong phòng trừ để sàng lọc và thực nghiệm những sản phẩm có triển vọng trên vườn trồng. Chỉ thực nghiệm những sản phẩm có trong danh mục, ít độc hại, ưu tiên sử dụng những sản phẩm có nguồn gốc sinh học, an toàn và có sẵn có tại địa phương.
Từ đánh giá thực trạng về thành phần, mức độ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng giải pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, kết quả thu được như sau:

Mô hình ứng dụng các giải pháp kỹ thuật phòng phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long.
Tiến hành xây dựng mô hình ứng dụng các giải pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long ruột đỏ tại xã Hoàng Hoa Thám và phường Bến Tắm, thành phố Chí Linh với 2 mô hình, mỗi mô hình diện tích là 01 ha. Vườn xây dựng mô hình thực hiện trên những vườn đã có sẵn của các hộ nông dân áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp đã có hiệu quả được nghiên cứu ở trên vào mô hình. Vườn có giống thanh long ruột đỏ đang được trồng phổ biến. Giống có chất lượng cao, có thị trường tiêu thụ. Áp dụng các biện pháp kỹ thuật: Các biện pháp kỹ thuật áp dụng vào mô hình để quản lý dịch bệnh tổng hợp bằng cách loại bỏ hoặc giảm tối đa nguồn bệnh lây nhiễm bằng việc cắt tỉa và vệ sinh vườn cây, áp dụng các biện pháp thân thiện giữ cho cường độ dịch bệnh dưới ngưỡng gây thiệt hại kinh tế và kết hợp với biện pháp hoá học khi cần thiết.
Cây thanh long ở 2 điểm mô hình trình diễn sinh trưởng, phát triển tốt hơn so đối chứng. Nhờ áp dụng các biện pháp canh tác kịp thời trước mùa mưa nên hạn chế được bệnh đốm nâu và thán thư. Hiệu quả phòng trừ sâu bệnh hại chính thể hiện rõ rệt so với đối chứng. Bệnh đốm nâu có chỉ số bệnh thấp hơn so với vườn đối chứng, hiệu quả đạt 86,36-93,75%. Bệnh thán thư của vườn mô hình có hiệu quả 85,71-92,95%. Không chỉ giảm được chỉ số bệnh đốm nâu, thán thư, mật độ rệp sáp vườn mô hình từ 1,58 -1,73 con/quả giảm rõ rệt so với đối chứng 15,79 – 16,29 con /quả, đạt hiệu quả 89,04 - 90,33%. Phòng trừ ruồi đục quả đạt hiệu quả 85,27-85,91% so với vườn đối chứng. Cây thanh long ra quả nhiều lứa trong năm, vụ thuận cây ra hoa tự nhiên từ tháng 4 đến tháng 10 có khoảng 08 - 10 đợt hoa trong một năm. Đến tháng 11/2025 cây thanh long đã ra hoa đậu quả được 10 đợt.
Năng suất của giống Thanh long ruột đỏ trong mô hình ở 02 địa điểm không có sự khác biệt nhiều, đạt từ 13,9 - 14,1 tấn/ha/năm nhưng đều cao hơn so với đối chứng. Tỷ lệ đậu quả, khối lượng trung bình quả của giống Thanh long ruột đỏ trong mô hình và đối chứng đều ở mức cao.
Đợt thu hoạch từ thứ 2 đến 5 (từ tháng 6 đến tháng 10) có năng suất thực thu tăng dần do số hoa, quả tăng dần. Đợt thu hoạch cuối cùng của năm (thứ 6 - 7) vào tháng 10 - 11 có năng suất thực thu thấp nhất chỉ đạt do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất thuận.
Điều kiện thời tiết bất thuận (nhiệt độ cao, nắng, mưa thất thường, khô hanh chuyển mưa ẩm ướt) làm tỷ lệ đậu quả thấp, chất lượng quả giảm và dẫn đến năng suất thấp mặc dù đối với một số đợt có số hoa nở tương đối nhiều: đợt 5, 6, 7 ra hoa, đậu quả vào tháng 7, 8, 9, 10.
Cây Thanh long ruột đỏ cho năng suất ổn định kể từ năm thứ 5 trở đi. Mô hình được trồng đến nay mới là năm thứ 4 nên chúng tôi chỉ tính toán hiệu quả kinh tế của mô hình căn cứ trên điều kiện thực tế của năm thứ tư. Trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế của mô hình trong điều kiện lượng đầu tư tiền mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí khác của giống thanh long ruột đỏ ở năm thứ tư là tương đương nhau.
Giống Thanh long ruột đỏ có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, được thị trường ưa chuộng và thu hoạch rải vụ nên có giá bán ổn định trung bình 15.000 đồng/kg.
Tổng thu của giống thanh long trong mô hình tại 02 địa điểm chênh lệch nhau không nhiều nhưng đều cáo hơn so với đối chứng do có năng suất cao hơn. Trồng thanh long ruột đỏ có chi phí về nhân công lao động cao do công thu hoạch nhiều đợt trong một năm.
Lãi thu được trên 01 năm của 01 ha giống Thanh long ruột đỏ đạt 126,10 triệu đồng đã trừ toàn bộ chi phí trong năm sản xuất, cao hơn so với đối chứng 10,5 triệu đồng/ha.
Nhóm nghiên cứu hoàn thiện thiện quy trình kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long tại thành phố một số địa phương trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Các nội dung kỹ thuật hoàn thiện: Biện pháp canh tác (Vệ sinh vườn, quản lý cỏ dại; Cắt tỉa cành; Quản lý nước tưới; Quản lý phân bón; Biện pháp bao quả); Biện pháp sinh học (Sử dụng bẫy, bả với ruồi đục quả; Chế phẩm sinh học với bệnh thối rễ chết cành do Phytophthora, Fusarium, với tuyến trùng, bệnh đốm nâu, thán thư; Biện pháp hóa học (thuốc hóa học với rệp sáp, bệnh thối rễ chết cành, bệnh đốm nâu, thán thư).
Đề tài đã triển khai, chuyển giao tập huấn kỹ thuật 02 lớp cho 100 người tham gia là cán bộ xã, HTX DVNN và các hộ dân tại địa phương. Các đại biểu tham gia tập huấn được nâng cao nhận thức về việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và các hộ dân, cán bộ HTX đã nắm vững được quy trình kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên cây Thanh long. Đối với BCN đề tài thì nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của bà con nông dân tham gia thực hiện mô hình. Đồng thời, đề tài cũng đã tổ chức được 02 hội thảo đầu bờ, trong 02 năm 2024 và 2025 tại phường Nguyễn Trãi; đưa tin qua Báo và Phát thanh, truyền hình Hải Phòng về kết quả của mô hình ứng dụng giải pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại chính trên thanh long; đăng 02 tin bài trên báo Hải Dương; Đăng tin bài tại Website Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương; 02 video tuyên truyền.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu mô hình đô thị trung hóa các-bon; đánh giá thí điểm cho 02 đô thị ở Việt... (20/03/2026)
- Xây dựng mô hình nuôi lươn đồng Monopterus albus (Zuiew, 1793) thương phẩm trong... (18/03/2026)
- Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống sò huyết Anadara granosa trong ao (16/03/2026)
- Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở khu vực phi chính thức... (11/03/2026)
- Nghiên cứu, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may... (09/03/2026)
