Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 10120
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Xây dựng hệ thống thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) (27/02/2026)

Nuôi trồng thủy sản (viết tắt là NTTS) là hoạt động nuôi các loài thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, nước mặn, nước lợ, chẳng hạn như cá, động vật có vỏ và thực vật; bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất tiến bộ, an toàn vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nguyên liệu thủy sản. Nó liên quan đến việc nhân giống, nuôi dưỡng và thu hoạch các sinh vật dưới nước và là một lĩnh vực quan trọng của ngành công nghiệp thực phẩm toàn cầu; đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thủy sản ngày càng tăng.

Khu vực Huyện Tứ Kỳ trước đây (Đại Sơn, Tân Kỳ, Tứ Kỳ, Chí Minh, Lạc Phượng, Nguyên Giáp - Thành phố Hải Phòng hiện nay) là địa phương có truyền thống phát triển nông nghiệp, trong đó nuôi trồng thủy sản được xác định là một trong những ngành sản xuất chủ lực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Tuy nhiên, hiện trạng NTTS ở địa phương còn tồn tại nhiều hạn chế, thể hiện rõ ở các khía cạnh như: Quy mô nuôi trồng nhỏ lẻ, phân tán, thiếu liên kết vùng và chưa hình thành được hệ thống quản lý không gian đồng bộ; Thông tin về diện tích ao nuôi, đối tượng nuôi, hình thức nuôi, sản lượng, hạ tầng thủy lợi – giao thông chủ yếu được tổng hợp thủ công, lưu trữ rời rạc dưới dạng hồ sơ giấy hoặc bảng biểu, chưa được số hóa và quản lý tập trung; Việc theo dõi biến động diện tích nuôi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tình trạng môi trường nước, dịch bệnh thủy sản chưa được cập nhật kịp thời, gây khó khăn cho công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan chuyên môn; Công tác quản lý hiện nay chưa gắn chặt với yếu tố không gian, thiếu các công cụ trực quan để hỗ trợ quản lý, phân tích và xây dựng phương án phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.

Trong xu thế chuyển đổi số nông nghiệp hiện nay, ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) vào quản lý NTTS được xem là yêu cầu cấp thiết, phù hợp với định hướng chung của thành phố Hải Phòng. GIS không chỉ giúp xây dựng và lưu trữ cơ sở dữ liệu không gian một cách khoa học mà còn cung cấp các công cụ phân tích mạnh mẽ, hỗ trợ đánh giá hiện trạng sản xuất, phân bố các vùng nuôi, mạng lưới cấp thoát nước, công trình bảo vệ môi trường, kiểm soát quy hoạch sử dụng đất và theo dõi sự thay đổi của môi trường nước. Thông qua bản đồ trực quan và khả năng tích hợp nhiều lớp thông tin, GIS giúp cơ quan quản lý dễ dàng giám sát vùng nuôi, phát hiện bất thường, đánh giá xu hướng và đưa ra quyết định chính xác hơn.Với mục tiêu Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu thông tin địa lý NTTS, bộ phần mềm hệ thống thông tin địa lý NTTS hỗ trợ hoạt động phát triển NTTS  trên địa bàn khu vực Huyện Tứ Kỳ (nay là xã Đại Sơn, Tân Kỳ, Tứ Kỳ, Chí Minh, Lạc Phượng, Nguyên Giáp thành phố Hải Phòng), năm 2024-2025 Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) đã phê duyệt triển khai nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh: “Xây dựng hệ thống thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”, nhiệm vụ do Học viện Kỹ thuật quân sự chủ trì thực hiện. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc thiết kế, xây dựng bộ cơ sở dữ liệu mẫu về NTTS khu vực nghiên cứu và hệ thống phần mềm (ứng dụng dạng Web GIS và Mobile GIS) hỗ trợ hoạt động quản lý, quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội dựa trên các nền tảng công nghệ GIS mã nguồn mở. Hệ thống này sẽ bổ sung những thay đổi về cách tiếp cận, cách triển khai mới nhờ vào sự phát triển của các nền tảng công nghệ số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; tăng cường tính công khai, minh bạch, thúc đẩy phát triển các dịch vụ số trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực NTTS nói riêng; cung cấp các thông tin hữu ích để các chủ hộ NTTS, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực NTTS được tiếp cận với những nguồn thông tin nhanh chóng, chính xác, giảm chi phí.  góp phần hỗ trợ hoạt động quản lý NTTS theo hướng khoa học, bền vững.

 

Thành phần của Hệ thống thông tin địa lý.

Kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy, Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS) là một hệ thống dựa trên máy tính được thiết kế để thu thập, lưu trữ, thao tác, phân tích và trình bày dữ liệu không gian địa lý. Hiện tại, GIS đã trở thành một phần không thể thiếu của nhiều ngành và lĩnh vực, bao gồm quy hoạch đô thị, quản lý môi trường, ứng phó khẩn cấp, giao thông vận tải, nông nghiệp và phân tích kinh doanh... Sự phát triển của các kỹ thuật phân tích không gian tiên tiến, trực quan hóa 3D và tích hợp dữ liệu thời gian thực, tiếp tục nâng cao khả năng của GIS. Ngày nay, GIS đã trở thành một công nghệ phát triển và được áp dụng rộng rãi, cung cấp cho lãnh đạo khả năng ra quyết định với những hiểu biết sâu sắc về không gian địa lý. Những tiến bộ không ngừng trong công nghệ GIS và sự sẵn có ngày càng tăng của dữ liệu không gian địa lý sẽ thúc đẩy hơn nữa sự đổi mới và mở rộng các ứng dụng của GIS trong tương lai. Một hệ thống thông tin địa lý hoàn chỉnh bao gồm năm thành phần cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bao gồm: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và quy trình. Trong quản lý NTTS hiện đại, yêu cầu về tính liên thông, đồng bộ và cập nhật dữ liệu theo thời gian thực ngày càng trở nên cấp thiết. Mỗi nhóm công cụ GIS - từ Desktop GIS phục vụ biên tập và phân tích chuyên sâu, đến Web GIS hỗ trợ tra cứu, giám sát trực tuyến và Mobile GIS phục vụ thu thập dữ liệu ngoài thực địa, đều giữ một vai trò riêng nhưng có mối liên hệ chặt chẽ trong chuỗi hoạt động quản lý.Kiến trúc tích hợp giữa Desktop - Web GIS - Mobile GIS thông qua một CSDL chung, tạo thành hệ thống GIS thống nhất, dễ mở rộng và phù hợp với điều kiện triển khai của các địa phương, đặc biệt trong lĩnh vực NTTS.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo NTTS thông qua việc xây dựng 03 mẫu phiếu điều tra (mỗi mẫu dưới 30 chỉ tiêu), thực hiện 550 phiếu khảo sát đối với các chủ hộ, doanh nghiệp, HTX và cơ sở NTTS có quy mô diện tích trên 3.000 m² tại các xã Đại Sơn, Tân Kỳ, Tứ Kỳ, Chí Minh, Lạc Phượng, Nguyên Giáp. Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động NTTS trên địa bàn nghiên cứu phân bố không đồng đều giữa các xã, tập trung chủ yếu tại những khu vực có điều kiện thuận lợi về nguồn nước, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ phục vụ sản xuất. Cơ cấu đối tượng nuôi trồng chủ yếu là các loài thủy sản truyền thống, kết hợp với một số đối tượng nuôi đặc thù, phản ánh đặc điểm sản xuất NTTS đặc trưng của khu vực nghiên cứu.

Qua 24 tháng triển khai nghiên cứu, đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu với các kết quả nghiên cứu cụ thể:

- Đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu thông tin địa lý NTTS huyện Tứ Kỳ, bộ cơ sở dữ liệu được xây dựng dưới dạng cơ sở dữ liệu không gian và thuộc tính, phản ánh hiện trạng, phân bố và các thông tin quản lý liên quan đến hoạt động NTTS ở địa phương. Cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, có cấu trúc rõ ràng, bảo đảm khả năng cập nhật, mở rộng và tích hợp với các hệ thống thông tin khác trong tương lai, phục vụ lâu dài cho công tác quản lý nhà nước và phát triển NTTS tại địa phương.

 

Hình ảnh nuôi cá lồng trên sông ở xã Bình Lãng, Tứ Kỳ.

- Hoàn thành xây dựng bộ phần mềm hệ thống thông tin địa lý NTTS, bộ phần mềm được phát triển trên nền tảng công nghệ thông tin và GIS hiện đại, sử dụng các giải pháp mã nguồn mở, bảo đảm tính linh hoạt, tiết kiệm chi phí và phù hợp với điều kiện triển khai tại địa phương. Phần mềm được thiết kế thân thiện, dễ sử dụng, đáp ứng yêu cầu vận hành ổn định, bảo mật và có khả năng mở rộng khi bổ sung dữ liệu hoặc chức năng mới.

- Đã xây dựng bộ bản đồ chuyên đề trên nền tảng dữ liệu GIS của nhiệm vụ, phản ánh trực quan và có hệ thống các nội dung liên quan đến NTTS trên địa bàn huyện Tứ Kỳ. Bộ bản đồ được biên tập theo đúng quy phạm bản đồ, có thể sử dụng ở dạng số trên hệ thống phần mềm và in ấn phục vụ công tác quản lý, báo cáo và tuyên truyền.

- Bộ tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống được biên soạn đầy đủ, rõ ràng, phục vụ cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Tài liệu được trình bày theo hình thức dễ tiếp cận, có minh họa thao tác, giúp đơn vị tiếp nhận chủ động vận hành, khai thác và duy trì hệ thống sau khi nhiệm vụ kết thúc.

- 01 bài báo khoa học được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu và triển khai của nhiệm vụ. Bài báo được gửi đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành phù hợp, góp phần công bố kết quả nghiên cứu, nâng cao giá trị khoa học và tính lan tỏa của nhiệm vụ.

Kết quả của đề tài không chỉ mang ý nghĩa về mặt khoa học công nghệ, mà còn có giá trị thực tiễn cao, phù hợp định hướng chuyển đổi số ngành nông nghiệp; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, tăng cường năng lực giám sát môi trường và hỗ trợ xây dựng vùng NTTS theo hướng bền vững. Trên cơ sở các kết quả đã đạt được, nhóm thực hiện nhiệm vụ cam kết bàn giao đầy đủ các sản phẩm của nhiệm vụ, bao gồm: cơ sở dữ liệu thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản, hệ thống phần mềm GIS, bộ bản đồ chuyên đề, tài liệu hướng dẫn sử dụng và các sản phẩm khoa học liên quan, cho các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của huyện Tứ Kỳ để tiếp nhận, quản lý và khai thác sử dụng.

Đồng thời, nhiệm vụ đã xây dựng phương án chuyển giao, vận hành và quản lý hệ thống sau khi kết thúc, bảo đảm đơn vị tiếp nhận có thể chủ động khai thác, cập nhật và duy trì hệ thống trong dài hạn. Việc bàn giao kèm theo mã nguồn, tài liệu kỹ thuật và hướng dẫn vận hành là cơ sở để địa phương làm chủ công nghệ, từng bước mở rộng và nhân rộng mô hình trong thời gian tới.Kết quả của nhiệm vụ không chỉ đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học mà còn có giá trị thực tiễn rõ ràng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi trồng thủy sản, phù hợp với định hướng chuyển đổi số và phát triển bền vững của địa phương.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng.