Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 26777 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Xây dựng mô hình sản xuất thương phẩm giống lúa mới TĐ25 kháng đạo ôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương (14/01/2026)
Trong những năm qua, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã nghiên cứu lai tạo và chọn lọc thành công giống lúa TĐ25, có thời gian sinh trưởng từ 135-140 ngày trong vụ Xuân, 110-115 ngày trong vụ Mùa, sinh trưởng nhanh, mạnh, bộ lá màu xanh đậm, bông to, hạt thon, xếp xít và có màu vàng sẫm. Khối lượng 1.000 hạt từ 21-23 gam. TĐ25 có mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính thấp, nhất là bệnh đạo ôn, giống được đánh giá ở mức Kháng (điểm 3) trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo tại Viện Bảo vệ thực vật. Năng suất trung bình từ 55 - 70 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt trên 75 tạ/ha. Đặc biệt giống TĐ25 có tỷ lệ gạo nguyên cao, hạt gạo trong, cơm mềm, đậm, ngon, hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và nhu cầu thị trường vè gao chất lượng cao được coi là loại sản phẩm đặc thủ và có lợi thế, có giá trị cao ngày càng tăng nhanh như hiện nay.
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh, trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn và hiện trạng sản xuất lúa của người dân địa phương, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã chủ trì thực hiện đề tài Xây dựng mô hình sản xuất thương phẩm giống lúa mới TD25 kháng đạo ôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương, ThS. Phạm Thị Bích làm chủ nhiệm.

Hội thảo khoa học mô hình giống lúa TĐ25 tại thực địa vụ Xuân 2025.
Đề tài đã lựa chọn được 12 địa điểm để triển khai thực hiện 20 mô hình sản xuất thương phẩm giống lúa mới TĐ25 kháng đạo ôn với quy mô 500 ha, gồm 1.340 hộ nông dân tham gia thuộc các xã Trần Phú, Chí Minh, Yết Kiêu, Vĩnh Lại, Hải Hưng, Quốc Tuấn, Lạc Phượng, Trường Tân, Tân An, Bắc Thanh Miện, Thanh Miện, Nam Sách, Lạc Phượng ngày nay. Giống lúa Khang dân 18 và TBR225 được sử dụng để làm đối chứng so sánh kết quả đánh giá tại các địa điểm triển khai thực hiện mô hình.
Nghiên cứu đặc điểm nông sinh, khả năng chống chịu của giống lúa mới TĐ25 và 02 giống đối chứng tại các mô hình cho thấy, cả 03 giống đều thể hiện khả năng chống đổ tốt, nhiễm rầy nâu thấp ở hầu hết các địa điểm, trừ giống Khang dân 18 ở Yết Kiêu - Gia Lộc; giống TĐ25 và Khang dân 18 ít nhiễm bạc lá hơn trong khi giống TBR225 có mức độ nhiễm bạc lá cao hơn do điều kiện thời tiết bất thuận; giống TĐ25 và TBR225 ở một số nơi có mức độ nhiễm sâu đục thân cao hơn giống Khang dân 18; giống TĐ25 có mức độ nhiễm sâu cuốn lá biến động mạnh, đặc biệt là ở Văn Tố - Tứ Kỳ và Ứng Hòe - Ninh Giang. Tại các điểm triển khai mô hình trong vụ Xuân 2025, giống lúa TĐ25 thể hiện khả năng kháng bệnh Đạo ôn vượt trội tại hầu hết các địa điểm như Gia Lộc, Tứ Kỳ và Ninh Giang. So với giống lúa đối chứng TBR225 bị nhiễm bệnh Đạo ôn nặng. Đối với bệnh Khô vằn và Rầy nâu, giống TĐ25 nhiễm rất nhẹ, tương đương hoặc thấp hơn so với giống Khang dân 18. Tuy nhiên, tại một số khu vực như Tứ Kỳ và Ninh Giang, giống này vẫn chịu áp lực nhất định từ sâu cuốn lá và sâu đục thân với mức độ nhiễm trung bình đến khá. Về đặc tính hình thái, cả ba giống lúa đều ghi nhận khả năng chống đổ tốt, giúp bảo vệ năng suất trong giai đoạn cuối vụ. Như vậy, giống TĐ25 chứng minh được ưu thế về tính chống chịu đa dạng các loại dịch hại phổ biến tại địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá TĐ25 là giống lúa có tiềm năng thích ứng tốt với cơ cấu mùa vụ tại tỉnh Hải Dương. Tại 5 điểm triển khai mô hình trong vụ mùa 2025 cho thấy, mặc dù thời tiết vụ mùa 2025 mưa nhiều xen lẫn nhiệt cao, sâu bệnh hại xuất hiện nhiều nhưng kết quả đánh giá tại các mô hình cho thấy, giống lúa TĐ25 nhiễm bệnh bạc lá thấp (điểm 0-1) thấp hơn so với giống đối chứng TBR225 (nhiễm nặng ở mức điểm 3-5). Đối với bệnh khô vằn và rầy nâu, TĐ25 bị nhiễm nhẹ, tương đương với giống Khang dân 18. Về tình hình sâu hại, giống TĐ25 có sự biến động nhẹ tùy theo địa bàn, trong đó nhiễm sâu cuốn lá và sâu đục thân ở mức trung bình (điểm 1-3) tại các điểm Nam Sách và Yết Kiêu, nhưng lại rất sạch sâu bệnh tại điểm Thanh Miện. Đáng chú ý, khả năng chống đổ của TDD25 (điểm 1-3), do đó đòi hỏi chế độ bón phân cân đối để tăng cường độ cứng cây. So với TBR225 và Khang dân 18, TĐ25 thể hiện ưu thế rõ rệt trong việc hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với các bệnh về lá. Nhìn chung, qua theo dõi sâu bệnh vụ mùa 2024 và vụ Xuân 2025, vụ mùa 2025 cho thấy, TĐ25 là giống lúa có phổ thích nghi rộng, sinh trưởng tốt và ít chịu áp lực từ các dịch hại chính trên địa bàn tỉnh.
Về đặc điểm nông sinh, giống lúa TĐ25 có dạng hình cây gọn đẹp, cứng cây, lá đòng đứng, cứng, xanh đậm. Giống lúa TĐ25 có sức sinh trưởng tốt, thời gian sinh trưởng 108-112 ngày trong vụ Mùa và 130-135 ngày trong vụ Xuân. Chiều cao cây từ 112-120cm. Dạng hình cây gọn đẹp, lá đòng đứng cứng, sinh trưởng và phát triển khỏe. Thời gian hạt vào chắc khá nhanh: 23-27 ngày. Chiều dài bông của giống lúa TĐ25 đạt 25-28 cm, số hạt/bông đạt 175-215 hạt. TĐ25 có tỷ lệ lép thấp 10-13%. Khối lượng 1.000 hạt đạt 22-23g, dạng hạt thon và có màu vàng sẫm.
Nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa TĐ25 vụ mùa 2024 cho thấy, vụ mùa năm 2024 chịu ảnh hưởng rất lớn từ cơn bão số 3 YaGi, các giống lúa đều chịu ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, tuy nhiên giống lúa TĐ25 vẫn đạt năng suất thực từ 55,5 đến 61,8 tạ/ha. Ưu thế năng suất của TĐ25 chủ yếu đến từ chỉ số số hạt trên bông cao (từ 187,5 đến 203,5 hạt), cao hơn hẳn so với TBR225 (25g) nhưng tỷ lệ lép thấp, số hạt/bông cao nên tổng sản lượng vẫn đạt mức cao nhất. So với giống đối chứng TBR225, TĐ25 cho năng suất cao hơn 7-10,6%, so với Khang dân 18, TĐ25 cho năng suất cao hơn 7,9-11,9%. Đặc biệt, tại các điểm như Văn Tố - Tứ Kỳ và Ứng Hòe – Ninh Giang, TĐ25 cho năng suất trên 60 tạ/ha. Tỷ lệ lép của TĐ25 là 12,3-14,2%, thấp hơn rất nhiều so với TBR (20,7-32,6%) vốn bị ảnh hưởng nặng bởi bệnh bạc lá và thể hiện tính mẫn cảm của giống trong điều kiện khắc nghiệt. Với kết quả này, TĐ25 đã khẳng định được ưu thế mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người nông dân. Tại 10 điểm xây dựng mô hình trong vụ Xuân 2025, giống lúa TĐ25 có năng suất cao và ổn định đạt 68,8-73,1 tạ/ha. TĐ25 đạt 165-183 hạt/bông, cao hơn so với giống đối chứng TBR225 và Khang dân 18. Đặc biệt, giống có tỷ lệ lép thấp từ 6,3-8,3%. Khối lượng 1000 hạt 23-23,5g thấp hơn so với TBR225 (26g). Kết quả tại các mô hình cho thấy TĐ25 vượt năng suất so với TBR225 từ 1,1-4,7% và vwotj Khang dân 18 từ 7,6-12,5%. Tại các điểm như Văn Tố - Tứ Kỳ và Thống Nhất – Gia Lộc, TĐ25 đã đạt năng suất cao nhất trên 71 tạ/ha. Đây là giống lúa hội tụ các yếu tố từ để nhánh tập trung, bông to, đến hạt chắc để đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập cho hộ sản xuất. Tại vụ mùa 2025, giống lúa TĐ25 khẳng định ưu thế vượt trội với năng suất thực thu đạt từ 60,5 đến 65,2 tạ/ha, cao nhất tại điểm Lạc Phượng (65,2 tạ/ha). Giống lúa TĐ25 có số hạt/bông lớn (170-178 hạt), cao hơn so với giống đối chứng TBR225 (146-149,3 hạt) và có tỷ lệ lép thấp (dưới 11%), cho thấy khả năng thích nghi tốt hơn hẳn so với các giống đối chứng trong cùng điều kiện canh tác. Kết quả cho thấy, TĐ25 vượt năng suất so với TBR225 từ 3-6,1% và vượt Khang dân 18 từ 8,2-11,4%. Qua đó chứng minh TĐ25 là giống lúa tiềm năng, có thể đưa vào thâm canh diện rộng để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Như vậy, kết quả triển khai mô hình cho thấy, giống TĐ25 có nhiều đặc điểm tốt. Thời gian sinh trưởng thuộc nhóm ngắn ngày, vụ Mùa 108-112 ngày và vụ Xuân 130-135 ngày tương đương với giống lúa KD18 thích hợp gieo cấy vụ Xuân muộn, mùa sớm tại tỉnh Hải Dương. Giống có khả năng chống chịu khá với các loại sâu bệnh hại chính trong điều kiện tự nhiên đặc biệt là bệnh đạo ôn; cứng cây, chống đổ tốt (điểm 1-3), trỗ nhanh (5-7 ngày).
Mô hình sản xuất thương phẩm giống lúa mới TĐ25 kháng đạo ôn có năng suất thực thu bình quân tại các điểm trong vụ mùa đạt 55,4-65,2 tạ/ha và vụ xuân đạt 68,8-73,1 tạ/ha cao hơn từ 7,6-12,5% so với đối chứng Khang dân 18 và cao hơn từ 1,1-6,1% so với TBR225. Hiệu quả kinh tế của TĐ25 cao hơn KD18 từ 36,9-56,8% và cao hơn TBR225 từ 4,6-36,9%. Đánh giá chất lượng gạo, cả 03 giống đều có tỷ lệ gạo lật khá cao, trên 81%. Giống lúa TĐ25 có lỷ lệ gạo xát 68,8% và tỷ lệ gạo nguyên là 65,5%, cao hơn so với Khang dân 18 là 58,6% gạo xát và 47,6% gạo nguyên. TĐ25 có chiều dài hạt gạo xát là 6mm, cao hơn Khang dân 18 là 5,5mm... Về chất lượng cơm, giống TĐ25 có mùi thơm điểm 3 và độ trắng điểm 5, tương đương đối chứng. Độ mềm dẻo điểm 3,9, vị ngon điểm 3,1, cao hơn đối chứng Khang dân 18 và tương đương TBR225; điểm tổng hợp đạt 15 và xếp hạng chất lượng trung bình tương đương với TBR225 và cao hơn mức so với đối chứng Khang dân 18 đạt điểm tổng hợp 11 xếp hạng chất lượng kém.
Nhóm nghiên cứu cũng đã chủ động kết nối với một số công ty như Công ty giống cây trồng Thủ Đô và thương lái với Hợp tác xã triển khai mô hình, các hộ nông dân để thu mua, tiêu thụ sản phẩm thóc tươi ngay tại ruộng với lượng 411 tấn vụ Mùa 2024, chiếm tỷ lệ 64,4-82,6% so với sản lượng thuocs thu được từ mô hình. Vụ Xuân 2025, tổng lượng thóc tiêu thụ đạt 1.446 tấn, chiếm tỷ lệ từ 63,4-77,6% so với lượng thóc thu được từ mô hình và vụ Mùa 2025 tổng lượng tiêu thụ đạt 394 tấn, chiếm tỷ lệ 57,8-65,6%. Do đó, qua 03 vụ, tổng lượng thóc TĐ25 đạt 2.251 tấn, chiếm 67,7% tổng sản lượng của toàn mô hình. Đây là bước đầu khả quan, giúp nông dân yên tâm sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế.
Với những kết quả nghiên cứu trên, đề tài cũng đã hoàn thiện 01 quy trình sản xuất thương phẩm giống lúa mới TĐ25 tại Hải Dương. Quy trình sản xuất giống lúa mới TĐ25 kháng đạo ôn, dễ hiểu, dễ áp dụng, phù hợp với điều kiện tỉnh Hải Dương. Quy trình được công nhận cấp cơ sở theo quyết định số 270/QĐ-VCLT-KH, ngày 31/10/2025 của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Đề tài đã kết nối tiêu thụ được 2251 tấn thóc thương phẩm. Bên cạnh đó, đã tổ chức 10 lớp tập huấn cho hơn 500 lượt học viên tham gia. Đã tổ chức 2 hội thảo khoa học tại thực địa với hơn 100 đại biểu tham dự.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng mô hình trồng một số giống hoa sen gắn với phát triển... (29/01/2026)
- Nghiên cứu sử dụng thức ăn bổ sung thảo dược trong chăn nuôi gà đẻ để sản xuất “trứng... (26/01/2026)
- Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái... (23/01/2026)
- Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm từ... (21/01/2026)
- Nghiên cứu, chế tạo thiết bị phát hiện lái xe buồn ngủ dựa trên nền trí tuệ nhân... (19/01/2026)
- Nghiên cứu bào chế dung dịch hỗ trợ điều trị viêm mũi xoang từ Cây ngũ sắc Ageratum... (16/01/2026)
