Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 410 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu số về đất sản xuất nông nghiệp: Nền tảng cho quản lý đất đai thời chuyển đổi số (22/07/2026)
Đất đai là tài nguyên đặc biệt, là tư liệu sản xuất không thể thay thế của ngành nông nghiệp, và việc quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hệ thống thông tin, dữ liệu đi kèm. Theo quy định tại Điều 163 Luật Đất đai năm 2024, hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được xây dựng nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai, đồng thời kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Đây là hạ tầng mềm quan trọng, góp phần cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Mặc dù các công trình nghiên cứu về chất lượng đất nông nghiệp trong nước và trên thế giới đã đánh giá, phân tích khá chi tiết các chỉ tiêu về đặc tính, tính chất đất theo từng phạm vi khác nhau, song thực tế cho thấy các nghiên cứu này tại Việt Nam trước đây hầu như chỉ tồn tại ở dạng offline, thông qua máy tính để bàn hoặc dạng giấy với báo cáo thuyết minh và bản đồ truyền thống, việc quản lý, khai thác dữ liệu trực tuyến còn rất hạn chế, gây khó khăn cho nhà quản lý, người sản xuất và doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp. Đáng chú ý hơn, dù cả nước đã có nhiều đề tài, dự án xây dựng cơ sở dữ liệu thành phần về đánh giá chất lượng đất, mức độ thích nghi đất đai hay bản đồ chuyên đề về đất, nhưng phần lớn dữ liệu lại được lưu trữ riêng lẻ tại nhiều cơ quan khác nhau, thiếu sự quản lý thống nhất, dẫn đến trùng lặp, sai khác giữa các nguồn số liệu, gây khó khăn cho việc tra cứu và chia sẻ thông tin.
Trước thực trạng đó, việc xây dựng một bộ cơ sở dữ liệu bản đồ mạng (WebGIS) trực tuyến, thống nhất, để quản lý tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp và hướng dẫn sử dụng phân bón hợp lý cho từng vùng đất, từng loại cây trồng cụ thể trở thành yêu cầu cấp thiết, phù hợp với xu hướng tất yếu của cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực khoa học, đời sống, kinh tế - xã hội. Yêu cầu này càng trở nên bức thiết hơn khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được hợp nhất thành tỉnh Đắk Lắk mới, với 102 đơn vị hành chính cấp xã, diện tích tự nhiên hơn 18.096 km2 và quy mô dân số hơn 3,34 triệu người. Việc mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập mở ra cơ hội lớn để khu vực này trở thành "thủ phủ" của cây cà phê, sầu riêng, cây lương thực cũng như nuôi trồng, đánh bắt hải sản, kiến tạo một trung tâm nông nghiệp hàng đầu cả nước. Chính vì vậy, việc cập nhật, số hóa và xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất đai dạng số cho khu vực 34 xã, phường thuộc tỉnh Phú Yên cũ, nay thuộc tỉnh Đắk Lắk, được xác định là nhiệm vụ rất cần thiết và cấp bách, nhằm cung cấp cơ sở khoa học nhanh chóng cho các nhà quản lý địa phương trong hoạch định chính sách sử dụng đất khi cả nước chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025.

Sơ đồ phân bố địa hình vùng nghiên cứu.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn cấp bách đó, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia "Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu số về đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk)", mã số ĐTĐL.CN-43/22, đã được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt triển khai trong 36 tháng, từ tháng 12/2022 đến tháng 11/2025, với tổng kinh phí thực hiện 11.800 triệu đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 9.900 triệu đồng và ngân sách địa phương đóng góp 1.900 triệu đồng. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên khoảng 153.938 ha đất sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng lúa, đất trồng cây hằng năm khác và đất trồng cây lâu năm.
Mục tiêu cốt lõi của nhiệm vụ là xây dựng thành công bộ cơ sở dữ liệu số về đất sản xuất nông nghiệp trên nền bản đồ số hóa hệ tọa độ quốc gia VN-2000, với tỷ lệ 1/10.000 ở cấp xã, phường và tổng hợp ở tỷ lệ 1/50.000 cho toàn vùng nghiên cứu, đồng thời xây dựng một phần mềm trực tuyến WebGIS để quản lý, khai thác, chia sẻ dữ liệu, cùng với việc xây dựng mô hình trình diễn và đề xuất giải pháp sử dụng đất, phân bón hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp bền vững.
Để có được nguồn dữ liệu đầu vào tin cậy, nhóm thực hiện đã tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu và mẫu bổ sung trên toàn bộ địa bàn 34 xã, phường với tổng diện tích 153.938,28 ha, bao gồm 720 phẫu diện chính, 4.000 mẫu nông hóa, 6.580 phẫu diện phụ và thăm dò, cùng 603 phiếu điều tra thực địa. Kết quả đánh giá thực trạng cho thấy sản xuất nông nghiệp trong vùng khá đa dạng và phong phú, với 6 loại sử dụng đất chính, bao gồm chuyên lúa, lúa màu, chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày, dược liệu, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả, tương ứng với 28 cơ cấu cây trồng chính. Về hiệu quả kinh tế, một số cơ cấu cây trồng cho hiệu quả rất cao, điển hình như kiểu sử dụng đất chuyên trồng rau, hoa đạt giá trị sản xuất 402,7 triệu đồng mỗi héc-ta, mang lại giá trị gia tăng 235,7 triệu đồng và hiệu quả đồng vốn 1,5 lần; trồng hồ tiêu đạt giá trị sản xuất 225 triệu đồng mỗi héc-ta với hiệu quả đồng vốn gần 2 lần. Đặc biệt, kiểu sử dụng đất trồng sầu riêng cho giá trị sản xuất và giá trị gia tăng ở mức rất cao, lần lượt đạt 840 triệu đồng và 535 triệu đồng mỗi héc-ta, vừa mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao vừa đảm bảo hiệu quả môi trường.
Trên nền tảng dữ liệu điều tra đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công bảy nhóm dữ liệu số cấu thành nên bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về đất sản xuất nông nghiệp vùng nghiên cứu. Thứ nhất là dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất, được số hóa chi tiết đến 11 kiểu sử dụng đất tại thời điểm năm 2023, trong đó kiểu sử dụng đất trồng cây công nghiệp hàng năm như mía, sắn chiếm diện tích lớn nhất với trên 65.400 ha, tương đương hơn 42% diện tích điều tra. Thứ hai là dữ liệu về thổ nhưỡng, xác định được 9 nhóm đất chính, phân chia thành 18 đơn vị đất và 27 đơn vị đất phụ, trong đó nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với hơn 63.196 ha, tương đương 41% tổng diện tích điều tra, tiếp đến là các nhóm đất đỏ vàng, đất phù sa, đất đen và một số nhóm đất khác với diện tích nhỏ hơn.
Thứ ba là dữ liệu về nông hóa, với toàn vùng được phân chia thành 75 đơn vị nông hóa, mỗi đơn vị tổ hợp từ 8 lớp thông tin gồm độ chua, hàm lượng chất hữu cơ, đạm, lân, kali tổng số và dễ tiêu, cùng dung tích hấp thu. Thứ tư là dữ liệu về đơn vị đất đai, với 156 đơn vị được xác định trên toàn vùng, mỗi khoanh đất tổ hợp từ 7 lớp thông tin gồm loại đất, thành phần cơ giới, độ dốc, độ dày tầng đất, mức độ đá lẫn, khả năng tưới tiêu và độ phì nhiêu tầng mặt. Thứ năm là dữ liệu về phân hạng mức độ thích hợp đất đai hiện tại và tương lai, xây dựng cho 16 loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô, đậu, rau, hoa, sắn, mía, cây có múi, hồ tiêu, cao su..., với 56 kiểu thích hợp hiện tại và 72 kiểu thích hợp dự báo đến năm 2050.
Thứ sáu là dữ liệu về đề xuất hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xác định 30 kiểu bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp trên địa bàn nghiên cứu; và thứ bảy là dữ liệu về tính toán phân bón cho cây trồng, xây dựng bản đồ khuyến cáo bón phân cân đối theo 75 đơn vị bản đồ nông hóa đã xác lập. Toàn bộ bảy nhóm dữ liệu này được chuẩn hóa và tích hợp vào một phần mềm trực tuyến WebGIS duy nhất, có khả năng chuẩn hóa cả dữ liệu không gian dạng bản đồ lẫn dữ liệu phi không gian dạng thuộc tính, cung cấp công cụ tìm kiếm theo khoanh đất, xã phường, hiện trạng sử dụng đất, thổ nhưỡng, khả năng thích hợp cây trồng và khuyến cáo bón phân theo từng thửa đất cụ thể, phù hợp cho nhiều nhóm đối tượng sử dụng khác nhau như người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, đồng thời đảm bảo khả năng tương thích với hệ thống chính quyền điện tử của tỉnh. Đây là hệ thống có mã nguồn mở, có thể tiếp tục cập nhật, mở rộng theo nhu cầu sử dụng thực tế trong tương lai.
Không dừng lại ở việc xây dựng dữ liệu và phần mềm, nhóm thực hiện còn xây dựng mô hình trình diễn sử dụng đất và phân bón hợp lý cho cây lúa trong hai vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2025, tại hai điểm nghiên cứu với sự tham gia của 21 hộ dân được hỗ trợ giống, vật tư và tập huấn kỹ thuật khai thác cơ sở dữ liệu trước khi gieo trồng. Kết quả cho thấy hiệu quả rõ rệt: với giống lúa HT1, năng suất bình quân hai vụ đạt 73,1 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng 5,15 tạ/ha, lợi nhuận đạt 92,22 triệu đồng mỗi héc-ta, tăng khoảng 27% so với canh tác truyền thống; với giống lúa ĐV108, năng suất đạt 84,35 tạ/ha, lợi nhuận đạt 96,73 triệu đồng mỗi héc-ta, tăng khoảng 27,6% so với đối chứng. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp cụ thể về sử dụng đất và phân bón phù hợp cho toàn vùng.
Với những kết quả đạt được một cách toàn diện, từ dữ liệu nền, phần mềm quản lý đến mô hình trình diễn thực tế, nhiệm vụ đã khẳng định giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng. Đối với người nông dân, bộ cơ sở dữ liệu cung cấp thông tin chi tiết về đặc tính đất đai tại chính thửa ruộng đang canh tác, kèm khuyến cáo sử dụng phân bón khoa học theo diện tích, cây trồng, giúp giảm chi phí đầu tư sai và nâng cao năng suất. Đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp, hệ thống giúp nhanh chóng nhận diện cây trồng phù hợp đặc thù đất đai địa phương để định hướng sản xuất, kinh doanh. Đối với cán bộ khuyến nông, đây là công cụ hữu ích để chỉ đạo sản xuất, tư vấn cho bà con thuận lợi, nhanh chóng. Còn với các cấp quản lý, hệ thống dữ liệu đầy đủ, khoa học là nền tảng quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển, hỗ trợ ra quyết định, đồng thời góp phần cải cách hành chính thông qua tăng cường phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan liên quan.
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia "Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu số về đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk)", mã số ĐTĐL.CN-43/22, do Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ quản, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam là tổ chức chủ trì thực hiện, cùng sự phối hợp của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ và Công ty TNHH Thương mại và Phát triển công nghệ Phần mềm TCSOFT, với TS. Lương Đức Toàn làm chủ nhiệm nhiệm vụ, đã hoàn thành đầy đủ mục tiêu, nội dung nghiên cứu đề ra. Nhóm thực hiện kiến nghị cơ quan chủ quản cần phổ biến rộng rãi kết quả nghiên cứu này đến các ngành, địa phương và người dân để cùng tham khảo, cân đối quỹ đất sản xuất và xây dựng phương án sử dụng đất hợp lý; đồng thời kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiếp tục quan tâm, hỗ trợ mở rộng xây dựng cơ sở dữ liệu số cho các xã, phường còn lại của tỉnh, nhằm đồng bộ hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu đất sản xuất nông nghiệp trên phạm vi toàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, hoạch định kế hoạch sử dụng đất, phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp số bền vững và hiệu quả trong giai đoạn tới.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu vùng sâm và ứng dụng công nghệ blockchain trong quản lý, kiểm... (05/08/2026)
- Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ mãn kinh thành phố Đà Nẵng,... (03/08/2026)
- Phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ (29/07/2026)
- Nghiên cứu vai trò kháng virus của hệ vi khuẩn đường ruột và chế tạo chế phẩm sinh... (17/09/2026)
- Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí cho ga đường sắt xanh, depot đường sắt xanh và đề... (24/07/2026)
