Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 529 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ mãn kinh thành phố Đà Nẵng, triển khai và đánh giá bước đầu một số giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng sống của phụ nữ mãn kinh (03/08/2026)
Mãn kinh là một cột mốc sinh lý tất yếu trong cuộc đời mỗi người phụ nữ, đánh dấu sự chuyển tiếp từ giai đoạn sinh sản sang giai đoạn không còn khả năng sinh sản do buồng trứng suy giảm chức năng một cách tự nhiên và không hồi phục. Đây không đơn thuần là một sự kiện sinh học đơn lẻ mà là cả một quá trình kéo dài nhiều năm, kéo theo hàng loạt biến đổi về nội tiết, thể chất và tâm lý, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người phụ nữ ở độ tuổi trung niên trở về sau. Theo nghiên cứu, tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam ngày càng tăng, hiện ở mức khoảng 76,5 tuổi, trong khi tuổi mãn kinh trung bình chỉ khoảng 51 tuổi. Điều đó có nghĩa là mỗi người phụ nữ sẽ phải sống ít nhất một phần tư thế kỷ trong và sau giai đoạn mãn kinh, với đầy đủ những nguy cơ sức khỏe đi kèm. Với quy mô dân số nữ đạt hơn 50 triệu người, Việt Nam đang có một tỷ lệ không nhỏ phụ nữ đã và đang bước vào giai đoạn này, tạo ra nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản rất lớn nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ và có hệ thống.
Khi bước vào tuổi mãn kinh, do tình trạng thiếu hụt estrogen là nguyên nhân chính, cộng với gánh nặng của tuổi tác, môi trường sống và điều kiện xã hội, người phụ nữ phải đối mặt với hàng loạt rối loạn: từ những triệu chứng cơ năng như bốc hỏa, vã mồ hôi đêm, rối loạn giấc ngủ, khô âm đạo, giảm ham muốn tình dục, cho đến nguy cơ dài hạn của các bệnh lý tim mạch, loãng xương, thậm chí là Alzheimer. Những rối loạn này không chỉ bào mòn sức khỏe thể chất mà còn tác động sâu sắc đến tâm lý, hiệu quả lao động và hạnh phúc gia đình của phụ nữ. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Mãn kinh Quốc tế, có một "cửa sổ thời gian" tối ưu để can thiệp điều trị hiệu quả nhất, đó là trong vòng 10 năm đầu sau mãn kinh và khi người phụ nữ còn dưới 60 tuổi; can thiệp trong giai đoạn này mang lại lợi ích cao hơn và giảm thiểu nguy cơ bệnh tật so với can thiệp muộn.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về mãn kinh trên thế giới cũng như trong nước, đây vẫn luôn là một chủ đề "mới" bởi số lượng phụ nữ cao tuổi không ngừng gia tăng, trong khi những đặc điểm về lối sống, thói quen sinh hoạt và điều kiện vùng miền lại có ảnh hưởng khác nhau đến tuổi mãn kinh và mức độ biểu hiện triệu chứng ở từng nhóm dân cư. Đà Nẵng, với vị thế là trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung, có nhịp sống đô thị hóa nhanh, áp lực công việc và cuộc sống ngày càng lớn, những yếu tố này được cho là có tác động không nhỏ đến tình trạng sức khỏe của phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh. Thế nhưng, cho đến trước khi đề tài này được triển khai, thành phố Đà Nẵng chưa có một nghiên cứu bài bản nào về mãn kinh, đặc biệt là về chất lượng sống, chất lượng tình dục cũng như mức độ ảnh hưởng của sự thiếu hụt estrogen đến các hình thái lâm sàng khác nhau của mãn kinh để từ đó có thể lựa chọn giải pháp can thiệp phù hợp, vừa hiệu quả về mặt y học vừa đảm bảo chi phí hợp lý. Khoảng trống dữ liệu này chính là động lực để nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng triển khai đề tài “Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ mãn kinh thành phố Đà Nẵng,
triển khai và đánh giá bước đầu một số giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng sống của phụ nữ mãn kinh”, với mong muốn xây dựng một bức tranh dịch tễ học đầy đủ và đề xuất được các mô hình can thiệp thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng sống cho phụ nữ mãn kinh trên địa bàn thành phố. Đề tài được tập trung vào ba nội dung lớn: nghiên cứu dịch tễ học và các chỉ số sức khỏe sinh sản, xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản, và triển khai đánh giá bước đầu hiệu quả của các biện pháp can thiệp.

Kỹ thuật lấy mẫu tế bào và phết lên lam.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra trên diện rộng để xác định tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ thành phố Đà Nẵng là 50,68 tuổi, với người mãn kinh sớm nhất ở tuổi 35 và muộn nhất ở tuổi 60; tỷ lệ mãn kinh sớm chiếm 0,9% và mãn kinh muộn chiếm 8,0%. Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều yếu tố có liên quan đến tuổi mãn kinh như địa dư cư trú, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, đặc điểm biến động kinh nguyệt trước đó, thói quen hút thuốc lá và thức khuya. Song song đó, các chỉ số nhân trắc và sinh học quan trọng cũng được xác lập, trong đó đáng chú ý là tình trạng giảm xương và loãng xương có xu hướng tăng dần theo thời gian mãn kinh, phản ánh rõ nét hệ quả của sự thiếu hụt estrogen kéo dài.
Bên cạnh các chỉ số sinh học, nghiên cứu còn khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ về chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi mãn kinh. Kết quả cho thấy khoảng 79% phụ nữ biết đúng về tiền mãn kinh và gần 70% biết đúng về mãn kinh, đa số nhận thức được ảnh hưởng của giai đoạn này đến sức khỏe. Tuy nhiên, kênh tiếp cận thông tin chủ yếu vẫn là truyền hình và báo chí, trong khi vai trò của cán bộ y tế và các tổ chức hội, đoàn thể trong việc cung cấp thông tin còn khá khiêm tốn. Đáng chú ý, tỷ lệ phụ nữ đi khám sức khỏe định kỳ chỉ đạt khoảng 33%, một con số phản ánh khoảng cách lớn giữa nhận thức và hành vi thực hành chăm sóc sức khỏe chủ động.
Về các triệu chứng rối loạn chức năng, nghiên cứu ghi nhận bốc hỏa là triệu chứng vận mạch phổ biến nhất, chiếm gần 48%; hay quên là biểu hiện tâm sinh lý thường gặp nhất với tỷ lệ gần 79%, tiếp đến là hồi hộp, mệt mỏi vô cớ, ngủ kém, nhức đầu và chóng mặt. Các triệu chứng cơ xương khớp cũng chiếm tỷ lệ cao, trên 60%; trong khi nhóm triệu chứng rối loạn niệu - sinh dục ghi nhận tiểu đêm trên ba lần chiếm gần 60%, khô âm đạo gần 50% và giao hợp đau khoảng 33%. Trước khi được can thiệp, có tới hơn 70% phụ nữ mãn kinh trong nghiên cứu có chất lượng sống ở mức thấp và rất thấp, còn chức năng tình dục bị suy giảm ở hơn 96% trường hợp – những con số cho thấy gánh nặng bệnh tật và tâm lý mà giai đoạn mãn kinh mang lại là rất đáng kể nếu không được quan tâm đúng mức.
Ở nội dung thứ hai, đề tài đi sâu tìm hiểu nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ mãn kinh trên nhiều phương diện: nhu cầu hỗ trợ trong đời sống tình dục, nhu cầu về tình cảm gia đình và nhu cầu về văn hóa - xã hội - y tế. Kết quả cho thấy phần lớn phụ nữ không đặt nặng vấn đề cần được hỗ trợ trong sinh hoạt tình dục, một phần vì tâm lý e ngại, xấu hổ; trong khi đó, nhu cầu được quan tâm về mặt tình cảm lại khá rõ nét, với hơn 40% phụ nữ mong muốn chồng quan tâm nhiều hơn và hơn 60% mong muốn gia đình quan tâm hơn vì cảm giác lẻ loi. Đáng chú ý, có sự khác biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn, miền núi trong nhu cầu được sống gần con cái. Về nhu cầu văn hóa - xã hội - y tế, nghiên cứu ghi nhận một tỷ lệ rất cao – trên 90% – phụ nữ mãn kinh mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ ngành y tế và có nhu cầu về các dịch vụ tư vấn liên quan đến sức khỏe mãn kinh, đây là cơ sở quan trọng để định hướng xây dựng các mô hình truyền thông, tư vấn phù hợp.
Nội dung thứ ba của đề tài tập trung triển khai và đánh giá bước đầu hiệu quả của ba nhóm biện pháp can thiệp: điều trị nội tiết thay thế bằng Cyclo-progynova, sử dụng chế phẩm Daikyn hỗ trợ tại chỗ, và mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe. Kết quả cho thấy cả ba nhóm can thiệp đều mang lại những cải thiện đáng ghi nhận. Ở nhóm điều trị bằng Cyclo-progynova, các triệu chứng vận mạch và tâm sinh lý giảm rõ rệt, tỷ lệ bốc hỏa giảm từ gần 80% xuống còn khoảng 49%, tần suất cơn bốc hỏa giảm từ 4 cơn/ngày xuống còn 1 cơn/ngày, điểm chất lượng sống và chức năng tình dục đều tăng lên. Ở nhóm sử dụng Daikyn, các triệu chứng rối loạn niệu - sinh dục cải thiện đáng kể, đặc biệt là tình trạng tiểu đêm và khô âm đạo, với điểm chất lượng sống tăng cao nhất trong ba nhóm can thiệp. Nhóm truyền thông – không sử dụng thuốc mà tập trung vào tư vấn, giáo dục sức khỏe – cũng cho thấy hiệu quả cải thiện rõ rệt về chất lượng sống và chức năng tình dục, chứng minh rằng bên cạnh các biện pháp y học, một mô hình truyền thông được thiết kế bài bản, có kết nối tư vấn y tế từ xa, hoàn toàn có thể là một giải pháp bổ trợ hiệu quả, chi phí thấp và dễ nhân rộng trong cộng đồng.
Từ những kết quả thu được, đề tài đã hoàn thành đầy đủ ba mục tiêu đề ra: xây dựng được bức tranh dịch tễ học và các chỉ số sức khỏe sinh sản của phụ nữ mãn kinh thành phố Đà Nẵng; xác định rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của nhóm đối tượng này trên các phương diện thể chất, tâm lý, gia đình và xã hội; đồng thời bước đầu đánh giá được hiệu quả của các biện pháp can thiệp y học và truyền thông. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về mãn kinh được thực hiện một cách hệ thống tại thành phố Đà Nẵng, cung cấp những dẫn liệu khoa học mới và có giá trị tham khảo không chỉ cho địa phương mà còn cho khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói chung.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài đã đưa ra ba kiến nghị quan trọng: đẩy mạnh tuyên truyền để phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được khám và tư vấn định kỳ nhằm phát hiện sớm nguy cơ mãn kinh sớm; tăng cường tuyên truyền, khám và tư vấn định kỳ cho phụ nữ mãn kinh, đặc biệt là nhóm dưới 60 tuổi và có thời gian mãn kinh dưới 10 năm để tận dụng "cửa sổ thời gian" can thiệp hiệu quả nhất; và tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ y tế trên địa bàn thành phố về các biện pháp nâng cao chất lượng sống cho phụ nữ mãn kinh, trong đó nhấn mạnh vai trò của truyền thông trực tiếp, gián tiếp cũng như sự đồng hành của gia đình.
Kết quả của đề tài không chỉ có ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu về mãn kinh tại Việt Nam mà còn mang giá trị thực tiễn thiết thực, làm cơ sở để ứng dụng vào công tác khám chữa bệnh tại Trung tâm chẩn đoán Y khoa của nhà trường cũng như nhân rộng mô hình can thiệp đến các tuyến y tế cơ sở và các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, góp phần chăm sóc tốt hơn cho sức khỏe và hạnh phúc của phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.
- Chọn cây bản địa cho rừng gỗ lớn: Thanh thất và bài toán phát triển lâm nghiệp bền... (24/08/2026)
- Nghiên cứu các động lực tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2025-2030 và... (21/08/2026)
- Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài Trà mi (Camellia spp.) tại Vườn... (19/08/2026)
- Từ cây thuốc mọc hoang đến vùng dược liệu chuẩn hóa: Câu chuyện phát triển Ích mẫu,... (17/08/2026)
- Giải pháp nâng cao năng lực quản trị và hành chính công của chính quyền thành phố... (14/08/2026)
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về Khu thương mại tự do, đề xuất một số cơ... (12/08/2026)
