Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 605
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về Khu thương mại tự do, đề xuất một số cơ chế chính sách áp dụng tại Khu thương mại tự do thuộc Khu Kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo - Densavan và khu vực Cảng Mỹ Thủy thuộc Khu kinh tế Đông Nam (12/08/2026)

KTMTD không chỉ là một mô hình kinh tế - kỹ thuật thuần túy. Đây là công cụ chính sách quan trọng thể hiện tầm nhìn phát triển của quốc gia, là nút kết nối chiến lược giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế, là “phòng thí nghiệm thể chế” để thử nghiệm các chính sách ưu đãi đầu tư, quản lý hải quan, tài chính, đất đai, thương mại hiện đại. Ở cấp độ địa phương, KTMTD còn là “cú huých” chiến lược để định vị lại vai trò, lợi thế, đột phá phát triển, đặc biệt tại những khu vực có điều kiện đặc thù về vị trí địa lý, hành lang giao thương và tiềm năng logistics như tỉnh Quảng Trị.

 

Bản đồ 7 vị trí quy hoạch các phân khu chức năng của Khu Thương mại tự do Đà Nẵng.

Tại Việt Nam, dù mô hình KTMTD đã được đề cập trong các nghiên cứu và tham vấn chính sách, nhưng phải đến gần đây, với xu thế hội nhập sâu rộng và yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh mới, việc nghiên cứu, thành lập KTMTD mới được chú trọng với kỳ vọng là bước đi đột phá, là mô hình thể chế mới tạo ra không gian phát triển mang tầm quốc tế. Việc xây dựng thành công các KTMTD gắn với Khu kinh tế thương mại qua biên giới chung Lao Bảo - Densavan và chuỗi cung ứng trên EWEC hứa hẹn sẽ khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh của tỉnh Quảng Trị về vị trí địa lý, kết nối giao thông, nguồn cung năng lượng, thương mại xuyên biên giới, mở ra không gian phát triển rộng lớn về phía Tây…

Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy KTMTD vẫn chưa được triển khai rộng rãi tại Việt Nam. Thách thức lớn nhất hiện nay là chưa có khung pháp lý và cơ chế vận hành cho loại hình này, dẫn tới nhiều khó khăn trong thủ tục thành lập, tham mưu, thẩm định, phê duyệt và tổ chức triển khai.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của địa phương, được sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Tổ công tác 626 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị (cũ), nhóm nghiên cứu triển khai thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất cơ chế, chính sách áp dụng tại Khu thương mại tự do thuộc Khu Kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo - Densavan và khu vực Cảng Mỹ Thủy thuộc Khu Kinh tế Đông Nam của tỉnh Quảng Trị”

Để làm rõ nhiệm vụ trên, nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa và làm rõ một cách có hệ thống cơ sở lý luận về KTMTD trong bối cảnh toàn cầu hóa và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu. Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, đề tài đã làm rõ khái niệm KTMTD, phân tích các đặc trưng cốt lõi và chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa KTMTD với các loại hình khu kinh tế khác như khu công nghiệp, khu phi thuế quan hay khu kinh tế tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy KTMTD không chỉ là một không gian ưu đãi thương mại - đầu tư mà còn là một mô hình thể chế đặc thù, cho phép thử nghiệm các cơ chế chính sách vượt trội về hải quan, tài chính, đầu tư và quản lý đất đai trong điều kiện kiểm soát rủi ro.

Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề tài đã phân tích có chọn lọc các mô hình KTMTD tiêu biểu tại Trung Quốc, Singapore, Malaysia và một số quốc gia khác. Kết quả cho thấy thành công của các KTMTD phụ thuộc vào bốn nhóm yếu tố then chốt: (i) vị trí chiến lược gắn với các đầu mối logistics quốc tế; (ii) khung pháp lý và thể chế vượt trội, ổn định và minh bạch; (iii) chất lượng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kết nối; (iv) mô hình quản trị tinh gọn, phân cấp mạnh, gắn với trách nhiệm giải trình rõ ràng. Đồng thời, đề tài cũng chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến các trường hợp chưa thành công, như đầu tư dàn trải, ưu đãi thiếu trọng tâm, thể chế chồng chéo và thiếu liên kết với chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, nhóm nghiên cứu đã làm rõ vai trò của KTMTD như một “động lực tăng trưởng mới” và là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đặc biệt, nghiên cứu đã luận giải tính tất yếu của việc phát triển KTMTD tại Việt Nam không chỉ như một chính sách ưu đãi đầu tư, mà là một bước đột phá thể chế có kiểm soát, phù hợp với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế theo tinh thần các Nghị quyết “Bộ tứ chiến lược” của Bộ Chính trị (Các Nghị quyết 57, 59, 66, 68).

Về kết quả nghiên cứu cơ sở pháp lý và thể chế: nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát, phân tích toàn diện hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến thương mại, đầu tư, hải quan, thuế, đất đai và quản lý khu kinh tế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù Việt Nam đã có nhiều quy định tiệm cận với thông lệ quốc tế, song hiện vẫn chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất và đầy đủ cho mô hình KTMTD. Các quy định hiện hành còn phân tán, chồng chéo thiếu tính tích hợp, chưa đáp ứng yêu cầu vận hành một KTMTD theo chuẩn mực quốc tế.

Trên cơ sở so sánh pháp lý với các KTMTD thành công trên thế giới, đề tài đã chỉ ra những khoảng trống thể chế chủ yếu, đặc biệt trong các lĩnh vực thủ tục hải quan, cơ chế kiểm soát hàng hóa, chính sách thuế - phí, quản lý dòng vốn và mô hình tổ chức bộ máy quản lý. Đây là đóng góp quan trọng về mặt học thuật và thực tiễn, tạo nền tảng khoa học cho việc kiến nghị thí điểm khung pháp lý riêng cho KTMTD tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Quảng Trị nói riêng.

Về Kết quả đánh giá thực nghiệm tại tỉnh Quảng Trị: Từ góc độ thực tiễn, đề tài đã đánh giá toàn diện các điều kiện cần và đủ để hình thành KTMTD tại tỉnh Quảng Trị trên các phương diện: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hạ tầng kỹ thuật, môi trường đầu tư, nguồn nhân lực và năng lực liên kết vùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy Quảng Trị có lợi thế đặc thù hiếm có khi hội tụ đồng thời cửa khẩu quốc tế đường bộ, cảng biển nước sâu và vị trí trung chuyển trên Hành lang kinh tế Đông - Tây. Đây là những điều kiện nền tảng để phát triển KTMTD gắn với logistics và thương mại xuyên biên giới.

Thông qua phân tích trường hợp Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo và đối chiếu với Khu thương mại biên giới Densavan (Lào), đề tài đã làm rõ những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra các hạn chế mang tính cấu trúc, đặc biệt là hạn chế về thể chế, cơ chế phối hợp song phương và chính sách ưu đãi chưa đủ sức hấp dẫn. Những phân tích này giúp lý giải vì sao mô hình Lao Bảo trong giai đoạn trước chưa phát huy hết tiềm năng, từ đó rút ra các bài học quan trọng cho việc xây dựng mô hình Khu kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo – Densavan trong giai đoạn mới.

Đối với khu vực Cảng Mỹ Thủy thuộc Khu kinh tế Đông Nam, nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đây là không gian có tiềm năng lớn để phát triển KTMTD gắn với cảng biển và chuỗi cung ứng quốc tế, song vẫn cần các điều kiện bổ trợ quan trọng như hạ tầng kết nối đồng bộ, cơ chế quản lý linh hoạt và chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược.

Về Kết quả điều tra khảo sát doanh nghiệp: Kết quả phân tích 102 phiếu khảo sát hợp lệ cho thấy phần lớn doanh nghiệp đánh giá cao tiềm năng phát triển KTMTD tại Quảng Trị, đặc biệt trong các lĩnh vực logistics, thương mại - dịch vụ và sản xuất gắn với xuất nhập khẩu. Doanh nghiệp thể hiện mức độ quan tâm và sẵn sàng tương đối cao đối với mô hình KTMTD, song đồng thời bày tỏ những băn khoăn liên quan đến tính ổn định của chính sách, thủ tục hành chính, chi phí logistics và chất lượng hạ tầng kết nối.

Phân tích định lượng cho thấy sự khác biệt rõ nét về kỳ vọng và nhu cầu chính sách giữa hai khu vực nghiên cứu. Doanh nghiệp tại khu vực Lao Bảo - Densavan ưu tiên các chính sách về hải quan, thương mại biên giới và cơ chế phối hợp liên quốc gia; trong khi doanh nghiệp tại khu vực Cảng Mỹ Thủy quan tâm nhiều hơn đến hạ tầng logistics, dịch vụ cảng biển và chính sách thu hút đầu tư quy mô lớn. Đây là kết quả thực nghiệm quan trọng, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng các mô hình KTMTD có tính phân hóa, linh hoạt theo không gian phát triển.

Về Kết quả đề xuất mô hình và chính sách: Trên cơ sở tổng hợp kết quả lý luận và thực nghiệm, đề tài đã đề xuất một số chính sách cho KTMTD tại Quảng Trị, như các nhóm chính sách về thể chế - quản lý, thuế và ưu đãi đầu tư, phát triển hạ tầng, logistics, thương mại - dịch vụ, hải quan và hàng rào phi thuế quan. Đồng thời, đề tài đã kiến nghị mô hình tổ chức và quản lý KTMTD theo hướng tinh gọn, phân cấp mạnh, bảo đảm tính linh hoạt và hiệu quả trong vận hành.

Đặc biệt, đề tài đã làm rõ định hướng phát triển mô hình KTMTD gắn với Khu kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo - Densavan và KTMTD gắn với Cảng Mỹ Thủy thuộc Khu kinh tế Đông Nam. Đây là đóng góp có giá trị khoa học và thực tiễn cao, tạo cơ sở luận cứ quan trọng cho việc xây dựng Đề án trình Chính phủ và Quốc hội xem xét cho phép thí điểm thành lập KTMTD tại tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới.

Kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm/ ứng dụng/ sử dụng trong thực tiễn: Sau khi tổ chức Hội thảo lần 1 “Mô hình Khu Thương mại tự do tại một số

Quốc gia trên thế giới - bài học cho Quảng Trị” với mục đích góp phần làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về KTMTD của một số quốc gia trên thế giới, từ đó liên hệ, rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Trị, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy đã có báo cáo gửi Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả tổ chức Hội thảo và đề xuất Ban Thường vụ Tỉnh ủy quan tâm, chỉ đạo sớm xây dựng Đề án thành lập KTMTD để trình Chính phủ, Quốc hội xem xét, cho phép tỉnh thí điểm thành lập, tạo bước đột phá chiến lược đưa Quảng Trị trở thành cực tăng trưởng mới, trung tâm logistics và thương mại quan trọng của miền Trung và tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đưa nội dung nghiên cứu xây dựng KTMTD vào chương trình hành động thực hiện Nghị quyết

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030 và có văn bản chỉ đạo UBND tỉnh, UBND tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng đề án thí điểm xây dựng Khu thương mại tự do tại Quảng Trị để trình cấp có thẩm quyền. Tuy đang trong quá trình nghiên cứu, chưa nghiệm thu nhưng sản phẩm của Đề tài đã và đang phục vụ thiết thực cho việc xây dựng Đề án của tỉnh.

Đề tài là cơ sở khoa học góp phần giúp các cơ quan chức năng của tỉnh tiếp cận một cách có hệ thống và toàn diện về KTMTD, nghiên cứu đề xuất với Trung ương các cơ chế, chính sách phù hợp, đồng thời có định hướng và giải pháp để xây dựng và hoàn thiện mô hình KTMTD, áp dụng tại các KTMTD trong Khu Kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo - Densavan và Khu Cảng biển Mỹ Thủy thuộc Khu kinh tế Đông Nam của tỉnh Quảng Trị.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.