Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 799 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu các động lực tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2025-2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (21/08/2026)
Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Quảng Nam chính thức được tái lập, mở ra một chặng đường phát triển mới đầy thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội. Sau hơn 25 năm, từ một tỉnh chủ yếu dựa vào nông nghiệp, Quảng Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của khu vực Duyên hải Trung Bộ, với quy mô nền kinh tế gấp 50 lần so với thời điểm tái lập tỉnh. Thế nhưng, đúng vào lúc cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, những động lực tăng trưởng truyền thống của Quảng Nam bắt đầu bộc lộ giới hạn. Câu hỏi đặt ra là: đâu sẽ là động lực để tỉnh tiếp tục bứt phá trong giai đoạn 2025-2030 và xa hơn là đến năm 2050? Đó chính là vấn đề trọng tâm mà đề tài "Nghiên cứu các động lực tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2025-2030 và tầm nhìn đến năm 2050" thực hiện.

Cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam năm 1996 và 2023.
Nhìn lại chặng đường đã qua, những con số cho thấy Quảng Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận: tổng sản phẩm trên địa bàn tăng bình quân gần 8,7% mỗi năm trong giai đoạn 1997-2025; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm hơn 68%; quy mô nền kinh tế vượt 147 nghìn tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người tăng 52 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 140 lần. Tỉnh hiện có 207 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 6,3 tỷ USD và hơn 8.600 doanh nghiệp trong nước đang hoạt động, cùng với Khu kinh tế mở Chu Lai và mạng lưới khu, cụm công nghiệp rộng khắp. Quảng Nam hiện nằm trong nhóm 10 địa phương có tỷ lệ đóng góp về ngân sách Trung ương cao nhất cả nước và thuộc nhóm 20 tỉnh, thành có quy mô kinh tế lớn nhất toàn quốc.
Những kết quả đó có được là nhờ sự đóng góp của nhiều động lực tăng trưởng đan xen: ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng góp lớn nhất; các ngành dịch vụ thị trường, nhất là dịch vụ liên quan đến du lịch, tăng trưởng ổn định; ngành xây dựng bứt phá mạnh trong giai đoạn gần đây; khu vực nông, lâm, ngư nghiệp duy trì tăng trưởng khá so với mặt bằng chung cả nước; cùng với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư khá cao, trong đó khu vực kinh tế tư nhân đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào cả GRDP lẫn tổng vốn đầu tư.
Tuy nhiên, đằng sau bức tranh tăng trưởng ấn tượng đó vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2023 chưa đạt so với chỉ tiêu đề ra, do ảnh hưởng của đại dịch và những biến động bất lợi của kinh tế thế giới. Ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô - vốn là trụ cột quan trọng của tỉnh - gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ thu hẹp và sức cạnh tranh yếu hơn so với xe nhập khẩu. Ngành chế biến, chế tạo và sản xuất điện cũng đối mặt với công nghệ lạc hậu, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Khu vực dịch vụ phát triển còn chậm, công tác xúc tiến đầu tư chưa đạt yêu cầu, chưa khai thác hiệu quả các ngành tiềm năng như công nghệ thông tin hay giáo dục - đào tạo. Đáng chú ý, sự phát triển giữa các vùng trong tỉnh còn mất cân đối rõ rệt: Vùng Đông phát triển nhanh dựa vào kinh tế biển nhưng dễ chịu tác động từ biến động toàn cầu, trong khi Vùng Tây tuy giàu tiềm năng về tài nguyên và dược liệu nhưng hạ tầng còn yếu, quỹ đất hạn chế, chưa được khai thác tương xứng. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, năng suất lao động còn thấp, và phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn vẫn ở quy mô nhỏ, thiếu chiến lược dài hạn.
Trong bối cảnh cả nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu tăng trưởng cao, việc chỉ tiếp tục dựa vào các động lực truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu theo cách làm cũ sẽ khó đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững mà Nghị quyết của Chính phủ cũng như mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030 của tỉnh đã đặt ra. Đồng thời, để bảo đảm sự phát triển phù hợp, đúng định hướng theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, việc xây dựng một nghiên cứu khoa học công phu, nghiêm túc nhằm xác định các động lực chính, mang tính đột phá và khả thi, cùng các giải pháp triển khai đồng bộ, là hết sức cần thiết. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành của UBND tỉnh và làm căn cứ xây dựng Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ tới.
Với mục tiêu tổng quát là phân tích thực trạng đóng góp của các động lực đến tăng trưởng kinh tế và đề xuất giải pháp phát huy các động lực này trong giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn 2050, đề tài đã triển khai nghiên cứu theo ba trục nội dung chính: động lực theo ngành kinh tế, động lực theo vùng lãnh thổ và động lực theo nguồn lực phát triển.
Về động lực theo ngành, nhóm nghiên cứu xác định ngành cơ khí và sản xuất kim loại, đặc biệt là công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, cần được ưu tiên phát triển hàng đầu. Đây là ngành tạo giá trị gia tăng cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng hiện đại, với lợi thế nổi bật là Trung tâm công nghiệp ô tô và logistics THACO Chu Lai - trung tâm lớn nhất cả nước và thuộc nhóm hàng đầu khu vực ASEAN. Trong khi tỷ lệ nội địa hóa ô tô của Việt Nam vẫn ở mức thấp nhất khu vực, đây chính là dư địa lớn để Quảng Nam phát triển hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ. Tiếp theo là nhóm ngành dệt may, da giày - dù đang ở khâu gia công với giá trị gia tăng thấp nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm, và có triển vọng mở rộng thị trường nhờ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Đối với khu vực dịch vụ, ngành thông tin và truyền thông được đánh giá có triển vọng phát triển mạnh mẽ nhất nhờ xu hướng chuyển đổi số và công nghiệp 4.0, tiếp theo là ngành du lịch - vốn là thế mạnh đặc biệt của Quảng Nam với hai di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn, cùng hàng trăm di tích và hơn 120 lễ hội dân gian, cùng ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm.
Về động lực theo vùng lãnh thổ, nghiên cứu chỉ ra Vùng Đông và Vùng Tây của tỉnh có định hướng phát triển khác biệt nhưng bổ trợ cho nhau: Vùng Đông tập trung vào kinh tế biển, dịch vụ, công nghiệp sạch, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao; trong khi Vùng Tây hướng đến bảo tồn hệ sinh thái rừng, phát triển công nghiệp dược liệu, nông nghiệp, thủy điện và khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, hai cụm động lực Điện Bàn - Hội An - Đại Lộc và Phú Ninh - Tam Kỳ - Núi Thành được xác định là hai đầu tàu tăng trưởng, cùng với ba hành lang phát triển quan trọng: hành lang kinh tế ven biển dọc cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, hành lang phía Tây dọc đường Hồ Chí Minh và đường Đông Trường Sơn, và hành lang kết nối quốc tế qua Cửa khẩu Nam Giang.
Về động lực theo nguồn lực, nghiên cứu xác định nguồn vốn đầu tư tiếp tục là động lực ưu tiên hàng đầu, nhưng với cách tiếp cận khác biệt so với trước: thay vì mở rộng đầu tư theo chiều rộng, cần sử dụng vốn theo hướng nâng cao hiệu quả và năng suất, đầu tư có chọn lọc vào hạ tầng công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh các hình thức hợp tác công tư để huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân. Ưu tiên thứ hai là thúc đẩy năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) như một động lực trung và dài hạn, thông qua cải cách thể chế, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ưu tiên thứ ba là khai thác hiệu quả nguồn lao động còn dư địa, đặc biệt ở khu vực nông thôn.
Trên cơ sở phân tích ba nhóm động lực nêu trên, đề tài đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, bao gồm: quán triệt và triển khai hiệu quả các chủ trương của Trung ương và của tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện tốt Quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt; làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống đồng thời nghiên cứu, phát triển các động lực tăng trưởng mới; tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược; phát huy các vùng động lực để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính; và đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Từ những phân tích toàn diện về hiện trạng, vai trò của các vùng, các ngành và các nguồn lực tăng trưởng, đề tài đã xác định được hệ thống các động lực tăng trưởng kinh tế then chốt cho tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể, khả thi để phát huy hiệu quả những động lực này. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị hệ thống hóa toàn bộ tư liệu, số liệu về tăng trưởng kinh tế của tỉnh từ năm 2000 đến nay, mà còn cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác hoạch định chính sách, điều hành kinh tế - xã hội của UBND tỉnh, đồng thời là căn cứ để xây dựng Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2025-2030, hiện thực hóa khát vọng đưa Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030.
Nhóm nghiên cứu cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng, với một chủ đề có phạm vi rất rộng, báo cáo khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định và mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý từ các nhà khoa học, nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách để nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu. Trên cơ sở kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất một số kiến nghị cụ thể lên Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, trong đó có việc thống nhất chủ trương cho phép sử dụng hiệu quả nguồn cải cách tiền lương còn dư để đầu tư các dự án trọng điểm, kết nối vùng trên địa bàn tỉnh; cũng như quan tâm phê duyệt các đề án quan trọng liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An và phát triển ngành công nghiệp chế biến sâu các sản phẩm từ khoáng sản của địa phương.
Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Nghiên cứu các động lực tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2025-2030 và tầm nhìn đến năm 2050" do Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam chủ trì thực hiện, với chủ nhiệm đề tài là ThS. Nguyễn Như Công, được triển khai từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025. Với những phân tích sâu sắc và hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất, đề tài được kỳ vọng sẽ trở thành một công cụ tham mưu quan trọng, giúp Quảng Nam định vị đúng hướng đi trong giai đoạn phát triển mới, phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế sẵn có để tiếp tục vươn lên mạnh mẽ trong chặng đường phía trước.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.
- Chọn cây bản địa cho rừng gỗ lớn: Thanh thất và bài toán phát triển lâm nghiệp bền... (24/08/2026)
- Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài Trà mi (Camellia spp.) tại Vườn... (19/08/2026)
- Từ cây thuốc mọc hoang đến vùng dược liệu chuẩn hóa: Câu chuyện phát triển Ích mẫu,... (17/08/2026)
- Giải pháp nâng cao năng lực quản trị và hành chính công của chính quyền thành phố... (14/08/2026)
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về Khu thương mại tự do, đề xuất một số cơ... (12/08/2026)
