Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 798
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Chọn cây bản địa cho rừng gỗ lớn: Thanh thất và bài toán phát triển lâm nghiệp bền vững tại Bắc Ninh (24/08/2026)

Phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn từ lâu đã là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và ngành Lâm nghiệp, được cụ thể hóa qua nhiều văn bản quan trọng như Luật Lâm nghiệp năm 2017, Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp hay Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025. Nhưng để chủ trương ấy đi vào thực tiễn một cách hiệu quả, câu hỏi đặt ra cho mỗi địa phương luôn là: nên chọn loài cây nào để trồng? Với tỉnh Bắc Ninh (trước đây là tỉnh Bắc Giang), câu trả lời đang dần được hé mở qua đề tài "Nghiên cứu, gây trồng thử nghiệm cây Thanh thất (Ailanthus triphysa (Dennst.) Alston) phục vụ trồng rừng gỗ lớn và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh)".

Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chủ trương phát triển rừng gỗ lớn đã được cụ thể hóa qua nhiều văn bản như Nghị quyết của Tỉnh ủy về chiến lược phát triển nông nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035; Kế hoạch triển khai Chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021-2025; và các quy định hỗ trợ phát triển nông nghiệp, ngành nghề nông thôn giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn loài cây trồng rừng phù hợp với điều kiện địa phương trở thành một yêu cầu hết sức cần thiết.

 

Biểu đồ phân bố số cá thể Thanh thất theo tầng cây trong khu vực nghiên cứu.

Thanh thất là loài cây bản địa, thân gỗ lớn, thường xanh, có thể đạt chiều cao tới 30m và đường kính tới 1,2m, với khả năng chịu hạn tốt. Gỗ Thanh thất có đặc điểm mềm, sáng màu, thớ mịn, dễ gia công và bóc tách, phù hợp cho kinh doanh gỗ lớn và sản xuất ván ép. Không chỉ có giá trị về gỗ, các bộ phận khác của cây như vỏ, thân, lá, quả còn mang giá trị dược liệu với công dụng kháng khuẩn, diệt trùng, thanh nhiệt, lợi thấp, bổ máu, hỗ trợ tiêu hóa và điều kinh. Lá cây còn có thể dùng làm thuốc trừ sâu sinh học, trong khi nhựa mủ từ vỏ được sử dụng làm thuốc nhuộm. Đáng chú ý, do lá và vỏ có vị đắng nên cây ít bị gia súc phá hoại; vỏ dày, chứa nhiều nước, tán cao nên có lợi thế trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và thích ứng với biến đổi khí hậu - những yếu tố ngày càng quan trọng trong bối cảnh thời tiết cực đoan gia tăng.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, cây Thanh thất đã phân bố khá phổ biến trong các sinh cảnh như rừng tự nhiên, rừng trồng và phân tán tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, mặc dù trên thế giới đã có một số nghiên cứu về loài Thanh thất ở các vùng sinh thái khác nhau, cho đến trước khi đề tài được triển khai, vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về loài cây này trên địa bàn tỉnh. Trong khi đó, việc phát triển Thanh thất nhằm cung cấp gỗ lớn và góp phần phát triển rừng bền vững đòi hỏi phải được nghiên cứu đầy đủ về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật trồng trước khi có thể triển khai trên diện rộng. Chính khoảng trống nghiên cứu này, cùng với yêu cầu bổ sung một loài cây trồng lâm nghiệp chính phù hợp với điều kiện địa phương, đã đặt ra tính cấp thiết cho việc nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ để tuyển chọn giống, nhân giống và xây dựng mô hình trồng rừng Thanh thất tại Bắc Ninh, góp phần thực hiện hiệu quả các chủ trương phát triển lâm nghiệp của Đảng và Nhà nước.

Để giải quyết bài toán đặt ra, đề tài được triển khai với bốn nội dung nghiên cứu chính, đi từ điều tra cơ bản, tuyển chọn giống, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cho đến xây dựng mô hình trồng rừng thực nghiệm.

Nhóm tác giả nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của cây Thanh thất trên địa bàn tỉnh. Thông qua 70 phiếu điều tra xã hội học cùng khảo sát thực địa trên nhiều tuyến và ô tiêu chuẩn, nhóm nghiên cứu đã thu thập được các thông tin về tổ thành loài, cấu trúc tầng cây, mật độ, phân bố và khả năng tái sinh tự nhiên của Thanh thất trong các trạng thái rừng khác nhau. Kết quả cho thấy Thanh thất phân bố rải rác trong rừng phục hồi với mật độ không cao nhưng vẫn đóng vai trò nhất định trong cấu trúc tầng cây cao; loài có khả năng tái sinh tự nhiên tương đối tốt, trong đó tái sinh từ hạt chiếm ưu thế với gần 60%, còn lại là tái sinh bằng chồi; mật độ tái sinh dao động ở mức khiêm tốn, tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao dưới 3 mét.

Nghiên cứu tiến hành tuyển chọn, công nhận cây trội làm nguồn giống phục vụ sản xuất giống cây Thanh thất. Từ 72 cây trội dự tuyển ban đầu, nhóm nghiên cứu đã sàng lọc và chính thức công nhận được 50 cây trội đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về sinh trưởng, hình thái thân cây, tán cây và tình trạng sâu bệnh hại, làm cơ sở khoa học vững chắc phục vụ công tác nhân giống và phát triển nguồn giống Thanh thất chất lượng cao cho tỉnh trong thời gian tới.

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Thanh thất từ hạt. Đây là nội dung có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, bởi kết quả nghiên cứu cho thấy hạt không bóc vỏ, không xử lý ngâm nước lại cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất, đạt hơn 84% - một phát hiện có giá trị ứng dụng cao vì đơn giản hóa đáng kể quy trình xử lý hạt giống so với thông thường. Nghiên cứu cũng xác định chế độ che sáng khoảng 50% trong giai đoạn vườn ươm là phù hợp nhất cho sinh trưởng của cây con. Trên cơ sở đó, đề tài đã sản xuất được 6.000 cây giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn, vượt hơn 9% so với kế hoạch đề ra, đồng thời xây dựng và ban hành chính thức quy trình kỹ thuật nhân giống cây Thanh thất từ hạt áp dụng cho địa bàn tỉnh.

Đề tài xây dựng mô hình trồng rừng Thanh thất theo hai phương thức: trồng rừng thuần loài và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung. Mô hình trồng rừng thuần loài được xây dựng với diện tích 2,16 ha tại xã Phúc Hòa, mật độ 1.100 cây một héc-ta, đạt tỷ lệ sống cao trên 98%, cây sinh trưởng tốt và ổn định với tỷ lệ cây chất lượng tốt trên 70%. Các biện pháp kỹ thuật được xác định là phù hợp bao gồm bón lót kết hợp phân vi sinh và NPK cho mỗi hố trồng, kích thước hố trồng 50x50x50 cm; đáng chú ý, sinh trưởng của cây tại vị trí chân đồi cho kết quả tốt hơn so với các vị trí khác. Song song đó, mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung được triển khai với diện tích 3 héc-ta tại xã Xuân Lương, đạt tỷ lệ sống trên 87%; nghiên cứu cũng xác định biện pháp xử lý thực bì theo băng chặt 4m, băng chừa 4m cho kết quả tốt nhất, đồng thời khẳng định Thanh thất là loài cây ưa sáng. Trong suốt quá trình theo dõi mô hình, nhóm nghiên cứu ghi nhận hai nhóm sâu bệnh hại chủ yếu là côn trùng chích hút và sâu ăn lá, nhưng mức độ gây hại còn thấp và chưa hình thành ổ dịch. Từ các kết quả mô hình thực nghiệm này, đề tài đã xây dựng và ban hành hai quy trình kỹ thuật trồng rừng tương ứng cho từng phương thức, cùng với việc tổ chức hai hội thảo khoa học để phổ biến, hoàn thiện kết quả nghiên cứu tới các nhà quản lý, chính quyền địa phương và người dân.

Sau thời gian triển khai, đề tài đã hoàn thành đầy đủ các nội dung và sản phẩm theo thuyết minh đã được phê duyệt, bao gồm 70 phiếu điều tra, 50 cây trội được công nhận, 6.000 cây giống đạt chuẩn, 2 mô hình trồng rừng thực nghiệm, 3 quy trình kỹ thuật cấp cơ sở và 2 hội thảo khoa học. Đề tài đã cung cấp một bộ cơ sở dữ liệu khoa học tương đối đầy đủ về đặc điểm lâm học, khả năng tái sinh, kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật trồng của cây Thanh thất tại Bắc Ninh - những dữ liệu mà trước đây địa phương hoàn toàn chưa có.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu cũng thẳng thắn chỉ ra một số tồn tại cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới. Do thời gian theo dõi các mô hình trồng rừng hiện mới ở giai đoạn đầu, khoảng 21 tháng, nên các quy trình kỹ thuật được xây dựng vẫn mang tính chất tạm thời, cấp cơ sở, chưa đủ cơ sở để đánh giá toàn diện sinh trưởng dài hạn, trữ lượng, chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế theo cả chu kỳ kinh doanh rừng. Phạm vi điều tra và quy mô mô hình cũng còn hạn chế về không gian nghiên cứu; nguồn giống từ 50 cây trội mới được đánh giá dựa trên hình thái và sinh trưởng biểu hiện, chưa có khảo nghiệm hậu thế để xác định mức độ ổn định di truyền; và công tác đánh giá hiệu quả kinh tế tổng hợp của mô hình vẫn còn ở mức bước đầu.

Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra hệ thống kiến nghị cụ thể đối với từng cấp, ngành liên quan. Đối với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, cần tiếp tục bố trí kinh phí cho giai đoạn nghiên cứu tiếp theo để theo dõi dài hạn từ 5 đến 10 năm các mô hình trồng rừng, tổ chức khảo nghiệm hậu thế đối với các cây trội đã tuyển chọn và hoàn thiện các quy trình kỹ thuật từ mức tạm thời lên quy trình hoàn chỉnh. Đối với Sở Nông nghiệp và Môi trường, cần xem xét đưa Thanh thất vào cơ cấu cây trồng rừng gỗ lớn chính thức của tỉnh, đồng thời tăng cường công tác khuyến lâm, tập huấn và chuyển giao kỹ thuật. Đối với chính quyền các xã có mô hình và các hộ dân, chủ rừng, cần tổ chức quản lý, bảo vệ tốt các mô hình đã xây dựng, áp dụng đúng quy trình kỹ thuật đã ban hành và ưu tiên sử dụng nguồn giống có xuất xứ rõ ràng từ các cây trội đã được công nhận.

Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Nghiên cứu, gây trồng thử nghiệm cây Thanh thất (Ailanthus triphysa (Dennst.) Alston) phục vụ trồng rừng gỗ lớn và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh)" do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh chủ trì thực hiện, với chủ nhiệm đề tài là ThS. Lã Mạnh Cường, được triển khai từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 3 năm 2026. Với những kết quả bước đầu đầy triển vọng, đề tài đã mở ra cơ sở khoa học quan trọng để đưa Thanh thất trở thành một trong những loài cây trồng rừng gỗ lớn chủ lực của tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới, góp phần vào mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững và nâng cao thu nhập cho người trồng rừng tại địa phương.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.