Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 506 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ (29/07/2026)
Thực tiễn qua 35 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã tạo động lực cho sự phát triển của đất nước và đạt được những thành tựu lớn. Kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức khá cao. Mặc dù những năm qua, tác động của đại dịch Covid - 19 và thiên tai, bão lũ nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung đã tác động nặng nề đến của tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2,779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011- 2015 lên khoảng 6%/ năm giai đoạn 2016- 2020.
Quy mô nền kinh tế được mở rộng không ngừng, năm 2021 đạt trên 362 tỷ USD (so với 4,2 tỷ USD năm 1986); GDP bình quân đầu người đạt gần 3.700 USD, tăng khoảng 26 lần so với năm 1990 (142 USD). Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; một trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; là nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản đứng đầu thế giới; có mạng lưới 15 hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực… Để có được những thành tựu trên, yếu tố then chốt là chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội; trong đó các doanh nghiệp Việt Nam là lực lượng có vai trò rất quan trọng. Hiện nay, phát triển doanh nghiệp trở nên cấp bách mà nước ta cần có những phương cách hiệu quả. Sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam góp phần quyết định vào việc thực hiện mục tiêu đưa nước ta đến năm 2025 trở thành nước đang phát triển, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp và thực hiện các mục tiêu tiếp theo đến năm 2030 và năm 2045.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Việt Nam; tuy nhiên đều có những điều chỉnh ở mỗi thời kỳ cho phù hợp với thực tiễn; nó là một yếu tố then chốt để bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia; là cách thức hiệu quả để nâng cao thế và lực, phát huy sức mạnh nội tại; là phương thức hữu hiệu góp phần giải quyết những vấn đề nội tại đặt ra trong nền kinh tế; tạo thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp hiệu quả.
Mỗi nền kinh tế quốc gia đang chứng kiến và đặt ra thách thức bởi sự tự chuyển đổi nhanh về tốc độ, sâu sắc về trình độ lực lượng sản xuất mới. Quá trình như vậy đang đòi hỏi một mô hình sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ cũng như phân công lao động kiểu mới. Một nền kinh tế đáp ứng được yêu cầu độc lập, tự chủ về đường lối, khả năng thích ứng với các tác động từ bên trong cũng như từ môi trường quốc tế, có khả năng thích ứng cao với sự đổi mới công nghệ, chủ động, tích cực tham gia vào hội nhập quốc tế, vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tham gia trực tiếp vào quá trình trên không có lực lượng nào khác là các doanh nghiệp tạo ra các hàng hóa, dịch vụ. Để hàng hóa có thể cạnh tranh được trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm chủ công nghệ và quản lý tiến bộ, hiện đại; có năng lực nội sinh mạnh; có khả năng triển khai tham gia chuỗi giá trị và thực hiện lợi ích ở mọi phân khúc trong chuỗi giá trị sản xuất hay dịch vụ, có khả năng tạo ra tư liệu và nguồn lực để tái sản xuất mở rộng cho chính nó, đồng thời cung cấp tư liệu sản xuất để thúc đẩy tái sản xuất mở rộng. Điều đó có nghĩa các doanh nghiệp đã tạo ra của cải vật chất, nguồn lực nội lực và là một trong những yếu tố để giữ vững được tính độc lập, tự chủ cho nền kinh tế.
Các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, góp phần tích cực trong giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động xã hội. Đã có một số doanh nghiệp có quy mô lớn và có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế... Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nhìn chung còn thấp, chậm được đổi mới. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp của nước ta trình độ sử dụng công nghệ còn hạn chế, đặc biệt là trình độ cơ khí chế tạo (là trụ cột của sản xuất công nghiệp). Năng lực, hiệu quả của các doanh nghiệp còn ở mức thấp. Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu của các sản phẩm của người Việt Nam còn rất hạn chế, chủ yếu tham gia vào khâu gia công, lắp ráp. Liên kết trong phát triển doanh nghiệp còn hạn chế và kém hiệu quả…
Đứng trước thực trạng đó, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ” do PGS,TS. Hoàng Thị Bích Loan làm chủ nhiệm.
Mục tiêu nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời gian qua; đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời gian tới.
Thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời gian qua
Những thuận lợi đối với phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ:
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo cơ hội to lớn cho các quốc gia thích ứng và khai thác, nâng cao sức cạnh tranh, mà đứng ở vị trí trung tâm là các doanh nghiệp - lực lượng trực tiếp đi đầu ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khoa học công nghệ là yếu tố ảnh hưởng đối với quản trị doanh nghiệp, doanh nghiệp nào có điều kiện kỹ thuật công nghệ và sớm ứng dụng nó vào sản xuất kinh doanh thì chiếm được lợi thế rất lớn về chất lượng, tốc độ sản xuất... từ đó tồn tại và phát triển. Hầu hết các hàng hoá sản phẩm của thế giới hiện đại được tạo ra đều dựa trên những thành tựu hay phát minh KHCN. Công nghệ hiện đại thì năng suất lao động càng cao, sản phẩm được tạo ra trong một đơn vị thời gian càng nhiều, giá cả của hàng hóa càng rẻ, tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố kỹ thuật công nghệ đóng vai trò như một thước đo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động của các doanh nghiệp không thể tách rời yếu tố công nghệ, phải thường xuyên đổi mới công nghệ để tạo ra sản phẩm mới với chất lượng cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Việc tiếp cận với công nghệ mới trong khi hội nhập đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để thích ứng; cần phải có sự điều chỉnh trong việc quản lý và đạo tạo nguồn nhân lực. Đối với Việt Nam, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có thể tận dụng những lợi thế, đó là "lợi thế người đi sau". Chúng ta có thể tiếp thu KHCN của các quốc gia đi trước đã nghiên cứu, dễ dàng tiếp cận những thành tựu khoa học này mà không phải mất thời gian nghiên cứu hay cần đến những mối quan hệ phức tạp khác; là cơ hội để Việt Nam tiến thẳng vào lĩnh vực công nghệ mới, thu hẹp khoảng cách phát triển. Yếu tố công nghệ được xem là yếu tố rất năng động, hàm chứa nhiều cơ hội đối với doanh nghiệp. Bởi sự phát triển của công nghệ cũng tạo ra sản phẩm chất lượng hơn, giá rẻ hơn làm tăng khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng có thể tạo ra thị trường mới cho sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng chứng kiến sự du nhập của các công nghệ tiên tiến, giúp tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới, tăng hiệu suất sản xuất và thúc đẩy sáng tạo. Điều này cũng tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực, tăng cường đầu tư cho KHCN, nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng. Đây là cơ hội để khu vực doanh nghiệp lớn mạnh, từ đó tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc khai thác đúng đắn và kịp thời những cơ hội này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội trong việc đi tắt đón đầu, ứng dụng những thành tựu KHCN của nhân loại, trước hết là công nghệ điều khiển và tự động hóa để nâng cao hiệu quả trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất.
Kết quả hội nhập của Việt Nam: Chúng ta đã chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ cả song phương và đa phương, với nhiều đối tác, trên nhiều lĩnh vực. Hội nhập đã và đang tạo dựng môi trường kinh doanh quốc tế ngày càng hoàn thiện. Với đường lối đối ngoại rộng mở, tích cực, chủ động đã giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong sản xuất kinh doanh, phát triển mạnh với các đối tác của doanh nghiệp; doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị ngày càng nhiều. Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp Việt Nam khẳng định sự sẵn sàng hội nhập và phát triển trong thời gian tới.
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi mô hình sản xuất, mô hình tổ chức, mô thức quản trị,… nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu phát triển. Hội nhập giúp Việt Nam có cơ hội thu hút nguồn vốn, công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Khi hội nhập các quốc gia phải tiến hành mở cửa thị trường, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với tiến trình mở cửa tự do hóa kinh tế,… Do vậy, thị trường tiêu thụ được mở rộng không chỉ trong nội địa, mà cả khu vực và thế giới. Ngoài ra các doanh nghiệp Việt Nam còn tiếp thu những kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực khác. Trong một thị trường mở không còn sự bảo hộ của Nhà nước, buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại để phù hợp, phải nâng cao hiệu quả kinh doanh để đứng vững, làm tăng tính năng động và hiệu quả hơn. Tiến bộ công nghệ và hội nhập quốc tế luôn song hành trong cách thức củng cố lẫn nhau; các hoạt động R&D được tăng cường đòi hỏi những thị trường lớn để bù đắp những chi phí cố định khổng lồ trong khi quá trình tiếp tục tự do hóa sẽ kích thích việc đầu tư vào R&D để nắm bắt các cơ hội ngày càng hấp dẫn từ việc mở rộng thị trường và cho phép chuyên môn hóa cao độ hơn về công nghệ. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng những ưu thế từ EVFTA có thể kể đến như: Các rào cản thuế quan và thương mại giữa Việt Nam và EU giảm, có thêm nhiều cơ hội tham gia sâu, rộng hơn vào chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như mở rộng thị trường quốc tế.
Chuyển đổi số mang lại nhiều cơ hội: Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), nền tảng chuyển đổi số sẽ làm tăng tính cạnh tranh. Theo kết quả khảo sát của Bộ Công Thương năm 2021 cho thấy, mạng xã hội vẫn là một kênh đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho doanh nghiệp (năm 2020 có 37% doanh nghiệp đánh giá cao hiệu quả kinh doanh thông qua các mạng xã hội). Tiếp sau đó là website của doanh nghiệp và ứng dụng di động là hai nền tảng được doanh nghiệp đánh giá đem lại hiệu quả cao ở mức ngang nhau (23%). Chuyển đối số còn giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình, sắp xếp hợp lý các quy trình công việc, quy trình kỹ thuật số và các tác vụ tự động là tất cả các cách tổ chức có thể tạo ra hiệu quả.
Chuyển đổi số tạo tiềm năng khổng lồ cho các lĩnh vực như thương mại, công nghiệp và xã hội nói chung, nó được hỗ trợ bởi một loạt các công nghệ mới liên kết lẫn nhau và được xử lý bằng các máy tính (bao gồm khả năng xử lý lượng lớn dữ liệu (Big Data) và sử dụng các cảm biến, robot, in 3D và trí tuệ nhân tạo xuyên suốt các ngành công nghiệp. Những công nghệ này đã giúp một số công việc nhất định trở nên nhẹ nhàng hơn, thực hiện những nhiệm vụ mà trước đây là không thể và thiết kế tạo ra các dịch vụ và sản phẩm tốt hơn.
Thành công của Công cuộc đổi mới trải qua hơn 35 năm. Việt Nam đối diện rất nhiều biến cố từ thế giới bên ngoài và từ nội tại nền kinh tế. Nhưng chúng ta vẫn giữ được ổn định trong một thế giới biến động, đây là điều quan trọng nhất, khẳng định sự tự tin của chúng ta để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Với những thành tựu phát triển ấn tượng và kết quả nổi bật như quy mô kinh tế Việt Nam tăng gấp 12 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 8,3 lần, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 29,5 lần, vốn FDI tăng 22 lần, tỷ lệ hộ nghèo cả nước từ 58% năm 1993 xuống chỉ còn 2,23% năm 2021 tính theo chuẩn mới. Từ một nước nghèo, lạc hậu và còn thiếu ăn, đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới…Điều đó tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển.
Những khó khăn đối với phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ:
Trình độ phát triển KHCN của Việt Nam còn thấp Yếu tố công nghệ được xem là yếu tố hàm chứa nhiều đe dọa đối với doanh nghiệp. Áp lực và đe dọa của yếu tố công nghệ có thể kể đến như: công nghệ mới làm xuất hiện các sản phẩm thay thế đe dọa các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu; sự phát triển của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời tạo áp lực đổi mới công nghệ lên doanh nghiệp nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho những người mới xâm nhập ngành; sự bùng nổ của công nghệ mới làm rút ngắn vòng đời công nghệ tạo áp lực rút ngắn thời gian khấu hao so với trước đây.
Chuyển đổi số đặt các doanh nghiệp Việt Nam cũng đứng trước những khó khăn như: năng lực và nguồn lực của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Từ đó khiến việc quản lý, vận hành của các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả, làm năng suất lao động thấp. Nguồn nhân lực số, nhân lực thông tin và truyền thông mặc dù đã được nhiều doanh nghiệp chú trọng nhưng vẫn gặp nhiều thách thức. Theo khảo sát của Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (Vinasa) tại Ngày Chuyển đổi số Việt Nam 2020 cho thấy, 69% doanh nghiệp được khảo sát không biết lựa chọn đối tác nào để triển khai chuyển đổi số, 72% không biết bắt đầu từ đâu, 92% không biết chuyển đổi số như thế nào. Nhận thức của doanh nghiệp về chuyển đổi số còn yếu. Tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ đặc biệt công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động quản trị doanh nghiệp còn rất nhiều hạn chế, nhiều chủ doanh nghiệp chưa nhận thức vai trò của công nghệ trong quản trị doanh nghiệp.
Có thể thấy, khó khăn lớn nhất là về nguồn vốn, chất lượng nguồn lao động, trình độ công nghệ,…còn nhiều hạn chế. Từ đó khiến việc quản lý, vận hành của các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả cao, năng suất thấp. Và một phần khó khăn xuất phát từ chính nội bộ doanh nghiệp, do chưa có cách thức quản lý phù hợp cũng như phương pháp khai thác và tối ưu hóa các nguồn lực hiện có trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lớn Việt Nam vẫn đang phát triển theo chiều rộng, tăng về doanh thu, số lượng sản phẩm, số lượng lao động, nguồn vốn…, tuy nhiên chưa thực sự chú trọng cải thiện về chất lượng sản phẩm cũng như nâng tầm công tác quản trị, đặc biệt là quản trị chiến lược. Nền tảng sản xuất tự chủ thiếu bền vững. Tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, vào những ngành và sản phẩm truyền thống. Cơ cấu kinh tế còn chuyển dịch chậm, tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP còn thấp, các loại dịch vụ cao cấp, có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh. Các thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Việc đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước còn chậm, hiệu quả hoạt động còn thấp ... Nội lực của nền công nghiệp còn yếu, phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2021, các doanh nghiệp FDI chiếm 55% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp và 73,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngành công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ phát triển còn nhiều hạn chế, công nghiệp thông minh phát triển còn chậm. Các ngành dịch vụ quan trọng chiếm tỉ trọng còn nhỏ, mối liên kết với các ngành sản xuất còn yếu. Bất lợi lớn của Việt Nam là chủ yếu xuất khẩu hàng có hàm lượng kĩ thuật hoặc giá trị gia tăng thấp nhưng nhập khẩu hàng có hàm lượng kĩ thuật hoặc giá trị gia tăng cao. Sự phát triển công nghiệp diễn ra không đồng đều giữa các vùng dẫn đến di dân tự phát cùng với nhiều hệ lụy về mặt xã hội. Trình độ tay nghề của đa số lao động còn thấp không theo kịp yêu cầu chuyển nhanh sang phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trước các cú sốc hoặc tác động bên ngoài, năng lực tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của doanh nghiệp, nền kinh tế còn yếu. Đặc biệt, qua 2 năm 2020 và 2021 tác động của dịch Covid - 19 đã minh chứng; nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế; về thể chế phát triển và môi trường kinh doanh; phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường. Tốc độ phát thải khí nhà kính đang vượt qua sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam, thể hiện chủ yếu ở sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào việc sản xuất điện từ đốt nhiên liệu chứa hàm lượng các bon cao. Những vấn đề môi trường ngày càng tăng không chỉ tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, mà còn có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng trong dài hạn.
Mức độ biến đổi khí hậu những năm gần đây xảy ra nhanh, thời tiết khí hậu nóng bức ở miền Bắc; dù mức độ ảnh hưởng ở mỗi vùng là khác nhau, nhưng đang tạo ra thách thức vô cùng to lớn. Đây là vấn đề lớn, đa ngành nên đòi hỏi Việt Nam cần có cơ chế, cách thức quản trị phù hợp đặc thù. Song biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến diện rộng, do đó đòi hỏi sự phối hợp của chính quyền các địa phương mạnh mẽ quyết liệt hơn. Theo đó, biến đổi khí hậu là thách thức chung, song cũng là áp lực cần thiết để thúc đẩy hoàn thiện thể chế liên kết vùng.
Doanh nghiệp trước các khó khăn, thách thức trong hội nhập: Về năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập sẽ tạo sức ép rất lớn cho các doanh nghiệp mới có thể đứng vững và khai thác được lợi thế của hội nhập. Về nguồn nhân lực yêu cầu phải có chất lượng cao cả về chuyên môn, tác phong và kỹ thuật... Việc tiếp cận với công nghệ mới trong khi hội nhập đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới làm chủ công nghệ. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp hiện tại còn thấp đã gây cản trở ít nhiều đến việc đổi mới công nghệ. Trên thị trường trong nước đang tràn ngập các mặt hàng nhập khẩu có chất lượng, thương hiệu và giá cả cạnh tranh hơn từ các nước đối tác FTA; đây là khó khăn lớn đối với các nhà sản xuất trong nước. Và thách thức về nguồn vốn, lao động, KHCN, marketing, môi trường kinh doanh… của doanh nghiệp còn ở mức thấp. Hiệp định EVFTA làm tăng áp lực đối với doanh nghiệp trong nước như: Việt Nam được miễn hơn 90% thuế quan cho hàng hóa của EU, nên nhiều mặt hàng có khả năng cạnh tranh mạnh của Châu Âu tràn vào thị trường Việt Nam. Hiệp định EVFTA đưa ra những quy định khắt khe đối với hàng hóa về các vấn đề như nguồn gốc xuất xứ, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn kỹ thuật, bán phá giá... các quy định khắt khe hơn.
Đồng thời, việc giảm thuế và phí thuế, sự thông thoáng về chính sách quản lý đối với các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ,… trong quá trình hội nhập sẽ tạo sức ép rất lớn, đòi hỏi nền kinh tế và các doanh nghiệp phải có đầy đủ khả năng cạnh tranh mới có thể trụ vững và khai thác được lợi thế của hội nhập.
Một số phương hướng cơ bản phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
Phát triển doanh nghiệp Việt Nam phải gắn với: Đường lối, chính sách, mục tiêu và chiến lược phát triển đất nước; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế; Nâng cao chất lượng sản phẩm, lợi ích quốc gia - dân tộc, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong những ngành, lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đề tài nghiên cứu là có tính thiết thực đối với nền kinh tế nước ta, nhất là trong điều kiện hiện nay. Đây thực sự là vấn đề cần được nghiên cứu nghiêm túc, đặc biệt là đặt nó trong điều kiện thực hiện chuyển đổi số. Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn; phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; đề tài làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân; đồng thời làm rõ những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết. Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời gian tới. cụ thể:
1. Đề tài đã luận giải những vấn đề lý luận chung về phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ bao gồm: Quan niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá và những yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ sở khung lý thuyết, đề tài đã rút ra kết luận khẳng định: Phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là tổng thể các hoạt động của các chủ thể, trực tiếp là doanh nghiệp nhằm đảm bảo về số lượng, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam thông qua các phương thức, biện pháp để các doanh nghiệp Việt Nam thực sự mạnh và có năng lực cạnh tranh quốc tế; góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế cho đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân, bảo đảm độc lập, chủ quyền của đất nước.
2. Để có cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn về phát triển doanh nghiệp Việt Nam; đề tài đã khảo cứu kinh nghiệm của một số quốc gia làm cơ sở để rút ra 05 bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam phát triển. 3. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời gian qua, mà cụ thể là phân tích và làm rõ những thành công, hạn chế và chỉ rõ những nguyên nhân của thành công hạn chế; đồng thời, đề tài nêu 03 vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết để phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đó là: Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển doanh nghiệp Việt Nam với những rào cản về thể chế kinh tế và hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa đồng bộ; Mâu thuẫn giữa yêu cầu yêu cầu phát triển doanh nghiệp Việt Nam với năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn hạn chế, yếu kém; Mâu thuẫn giữa nâng cao chất lượng doanh nghiệp Việt Nam với thực trạng nội lực của doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ còn yếu. Đó là cơ sở để đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp Việt Nam. Có thể khẳng định, với nguồn tài liệu khá phong phú, đề tài đã khái quát được bức tranh khá toàn diện và sâu sắc về thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời gian qua.
4. Từ những kết quả phân tích các nguyên nhân hạn chế và những vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết. Đề tài đã đưa ra 05 phương hướng cơ bản và 02 nhóm giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đến năm 2030 đó là:
Nhóm giải pháp đối với Nhà nước bao gồm: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phát triển; Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp hoạt động; Hình thành và phát triển đồng bộ hệ thống thị trường, đặc biệt là thị trường các yếu tố sản xuất; Kiến tạo môi trường, điều kiện thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; Xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nhân.
Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam gồm: Cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đặc biệt doanh nghiệp nhà nước; Nâng cao chất lượng của doanh nghiệp Việt Nam; Huy động và sử dụng vốn hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới và đổi mới công nghệ.
Đồng thời đề tài cũng đưa ra 4 kiến nghị với: Nhà nước, Doanh nghiệp, Ngân hàng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất là khá toàn diện và đồng bộ, sẽ là những gợi ý để Nhà nước tham khảo có chính sách phù hợp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài Trà mi (Camellia spp.) tại Vườn... (19/08/2026)
- Từ cây thuốc mọc hoang đến vùng dược liệu chuẩn hóa: Câu chuyện phát triển Ích mẫu,... (17/08/2026)
- Giải pháp nâng cao năng lực quản trị và hành chính công của chính quyền thành phố... (14/08/2026)
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về Khu thương mại tự do, đề xuất một số cơ... (12/08/2026)
- Nghiên cứu, hoàn thiện quy trình sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe từ cây rau má... (10/08/2026)
- Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Khôi nhung tại Khu bảo tồn thiên nhiên... (07/08/2026)
