Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 305
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Mây chỉ và Song bột tại các tỉnh Tây Nguyên (03/07/2026)

Trong bối cảnh nguồn tài nguyên rừng tự nhiên ngày càng suy giảm và chính sách đóng cửa rừng tự nhiên được thực thi nghiêm ngặt trên phạm vi cả nước, việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thay thế gỗ đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của ngành lâm nghiệp Việt Nam. Trong nhóm lâm sản ngoài gỗ, các loài cây có sợi - đặc biệt là song mây - được dự báo sẽ ngày càng chiếm lĩnh thị trường nhờ tính bền vững và giá trị kinh tế cao. Nhằm hiện thực hóa định hướng này, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 297/QĐ-TTg ngày 18/3/2019 phê duyệt Đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên, trong đó nhấn mạnh việc hình thành các vùng nguyên liệu chiến lược, bao gồm các loài mây song chất lượng cao.

Là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu hàng mây tre đan chủ lực trên thế giới, Việt Nam sở hữu nhiều loài mây có giá trị kinh tế đặc biệt, trong đó nổi bật là Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) và Song bột (Calamus poilanei Conrard). Mây chỉ có thân nhỏ, tròn đều, độ dẻo dai và khả năng uốn cong tốt, là nguyên liệu gần như không thể thay thế để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp đòi hỏi độ tinh xảo, chi tiết. Trong khi đó, Song bột có thân lớn, độ bền cơ học cao, chịu lực tốt nhưng vẫn giữ được độ đàn hồi cần thiết, cấu trúc sợi ổn định, là lựa chọn hàng đầu để làm khung sườn nội thất phục vụ xuất khẩu.

Tuy nhiên, tình trạng khai thác quá mức trong nhiều năm qua đã khiến nguồn tài nguyên này suy kiệt nghiêm trọng, thậm chí đẩy một số loài đến bờ vực tuyệt chủng. Riêng tại Lâm Đồng, sản lượng mây đã giảm mạnh từ 686 tấn năm 2005 xuống chỉ còn 320 tấn năm 2017. Sự sụt giảm này buộc nhiều doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu với giá thành cao hơn trong khi chất lượng lại kém hơn so với nguồn nguyên liệu trong nước trước đây. Dù đã có một số công trình nghiên cứu về kỹ thuật gieo ươm và trồng mây dưới tán rừng, nhưng việc bảo tồn và khai thác nguồn gen một cách có hệ thống, dựa trên đặc thù sinh thái riêng của vùng Tây Nguyên, vẫn còn nhiều khoảng trống lớn. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết về giữ vững thương hiệu mây tre đan Việt Nam và ổn định sinh kế cho người dân vùng cao, nhiệm vụ Quỹ gen cấp Quốc gia "Khai thác và phát triển nguồn gen cây Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) và Song bột (Calamus poilanei Conrard) tại một số tỉnh vùng Tây Nguyên" đã được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2020-2025.

 

Đặc điểm hình thái Song bột.

Nội dung nghiên cứu của nhiệm vụ được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện, từ điều tra hiện trạng, đánh giá đa dạng di truyền, xây dựng vườn tập hợp giống, hoàn thiện quy trình nhân giống, kỹ thuật gây trồng cho đến hướng dẫn thu hoạch, sơ chế và bảo quản nguyên liệu.

Về hiện trạng phân bố và đặc điểm lâm học, kết quả điều tra cho thấy Mây chỉ tập trung chủ yếu tại khu vực Nam Tây Nguyên (tỉnh Lâm Đồng), Đồng Nai và Bình Phước, trong khi Song bột có phạm vi phân bố hẹp hơn, chủ yếu ở Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) và Vườn Quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai). Cả hai loài đều sinh trưởng tốt nhất ở độ cao từ 200m đến 600m so với mực nước biển, phổ biến nhất trong khoảng 200-300m. Chu kỳ ra hoa của cả hai loài diễn ra tương đối đồng nhất vào tháng 10-11 hằng năm, quá trình phát triển quả kéo dài hơn 90 ngày; tuy nhiên thời điểm quả chín có sự khác biệt, Mây chỉ chín vào tháng 4-5 còn Song bột chín muộn hơn, vào tháng 4-6.

Kết quả đánh giá đa dạng di truyền cho thấy quần thể Mây chỉ có mức độ biệt hóa di truyền thấp (GST = 0,1132) giữa ba quần thể được khảo sát, với khoảng cách di truyền giữa các cặp quần thể tương đối nhỏ, dao động từ 0,0436 đến 0,1065; phần lớn biến động di truyền nằm trong nội bộ từng quần thể (chiếm 83%), trong khi sự khác biệt giữa các quần thể chỉ chiếm 17%. Tương tự, Song bột cũng thể hiện mức độ biệt hóa di truyền rất thấp (GST = 0,0374) giữa hai quần thể Cát Tiên và Đắk R'Lấp, với dòng gen giữa hai quần thể này được ghi nhận là rất mạnh (Nm = 12,88 cá thể/thế hệ); biến động di truyền chủ yếu nằm trong nội bộ cá thể (94%), sự khác biệt giữa các quần thể chỉ chiếm 6%. Về đặc tính vật lý, cả hai loài sau khi khô tự nhiên đều có độ co rút thấp, ít nứt và ít thay đổi kích thước trong quá trình chế biến, sử dụng; Mây chỉ có khả năng chịu kéo tốt, phù hợp làm hàng thủ công đan lát, còn Song bột có khối lượng thể tích và tính chất cơ lý ở mức trung bình, thích hợp làm đòn tay, bàn ghế thủ công mỹ nghệ.

Trên cơ sở kết quả điều tra, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công vườn tập hợp giống, qua đó xác định được các xuất xứ Mây chỉ tại Đồng Nai Thượng, Tiên Hoàng và Lộc Bảo có sinh trưởng chiều dài thân và số thân trên bụi tốt nhất, vượt từ 41,12% đến 58,42% so với trung bình khảo nghiệm. Đối với Song bột, các xuất xứ Đồng Nai Thượng, Tiên Hoàng và Phước Cát cho sinh trưởng chiều dài thân tốt nhất, vượt từ 32,46% đến 55,46% so với trung bình khảo nghiệm; một số cây trội của Mây chỉ đã ra hoa, kết quả, tạo tiền đề cho công tác thu hái hạt giống trong tương lai.

Về kỹ thuật nhân giống, nghiên cứu xác định hạt Mây chỉ có khối lượng khoảng 3.773,9 hạt/kg với hàm lượng nước trong hạt là 7,7%; hạt giống nên được gieo ngay sau khi thu hái hoặc bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 5°C trong tối đa 3 tháng. Phương pháp xử lý cho tỷ lệ nảy mầm tốt nhất là ngâm hạt trong dung dịch GA3 nồng độ 80 ppm trong 12 giờ, sau đó ủ trên giá thể cát có trát bùn trên mặt để kích thích bật chồi; cường độ che sáng phù hợp là 50-75% và thành phần ruột bầu tối ưu gồm 80% đất mặt, 10% cát, 8% phân chuồng hoai và 2% lân. Đối với Song bột, hạt có khối lượng khoảng 5.112,7 hạt/kg, hàm lượng nước 8,41%, bảo quản tốt nhất ở nhiệt độ 5-15°C trong 1 tháng; xử lý bằng dung dịch GA3 nồng độ 80-160 ppm trong 12 giờ và ủ trên cát trát bùn cho tỷ lệ bật chồi đạt 88,33%; thành phần ruột bầu tương tự Mây chỉ nhưng độ che sáng phù hợp hơn ở mức 75%.

Về kỹ thuật gây trồng, kết quả nghiên cứu chỉ ra Mây chỉ sinh trưởng tốt ở độ tàn che 0,3-0,5, làm đất theo hố kích thước 30x30x30cm, chăm sóc 4 lần mỗi năm; công thức bón phân kết hợp 1kg phân hữu cơ vi sinh và 0,2kg NPK (16:16:8) mỗi hố mỗi năm cho hiệu quả sinh trưởng cao nhất, giúp cây đạt chiều dài thân trung bình 103,30cm và 3,63 chồi trên mỗi bụi. Song bột sinh trưởng tốt ở độ tàn che cao hơn, từ 0,5-0,7, với kích thước hố trồng 30x30x30cm hoặc 40x40x40cm tùy điều kiện lập địa, áp dụng cùng công thức phân bón như Mây chỉ.

Về kỹ thuật thu hoạch, sơ chế và bảo quản, nghiên cứu khuyến cáo thu hoạch nguyên liệu vào mùa khô, khi Mây chỉ đạt chiều dài thân 5m và Song bột đạt 7m. Nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng thành công ba công thức thuốc bảo quản chống nấm mốc và mọt hiệu quả cho nguyên liệu sau thu hoạch, với nồng độ và thời gian xử lý cụ thể phù hợp cho từng dạng nguyên liệu (nguyên đoạn hay chẻ sợi), tạo cơ sở khoa học cho việc bảo quản nguyên liệu phục vụ chế biến lâu dài.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu cũng thẳng thắn chỉ ra một số tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung, như chu kỳ sai quả và biến động năng suất hạt giống hằng năm của hai loài chưa được đánh giá đầy đủ; các nghiên cứu về kỹ thuật khai thác mới dừng ở chỉ số chiều dài mà chưa đi sâu đánh giá sự biến đổi tính chất cơ lý của sợi theo tuổi cây để xác định thời điểm khai thác tối ưu; đồng thời sự tương tác giữa Mây chỉ, Song bột với các loài cây phù trợ khác dưới tán rừng tự nhiên cũng chưa được đánh giá chi tiết.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu kiến nghị tiếp tục theo dõi các mô hình vườn tập hợp giống để đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất khi cây bước vào giai đoạn trưởng thành; mở rộng nghiên cứu về công nghệ chế biến nguyên liệu, đặc biệt là kỹ thuật nhuộm màu tự nhiên và uốn định hình công nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Đồng thời, cần thiết lập các khu bảo tồn nguồn gen tại chỗ ở Vườn Quốc gia Cát Tiên và các khu rừng phòng hộ trọng điểm tại Lâm Đồng, kết hợp xây dựng vườn giống tập trung để chủ động nguồn giống chất lượng cao phục vụ các dự án phát triển lâm sản ngoài gỗ trong tương lai; và sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm, trồng rừng thâm canh Mây chỉ và Song bột để người dân, doanh nghiệp tại Tây Nguyên có cơ sở áp dụng vào thực tiễn sản xuất.

Có thể thấy, những kết quả mà nhiệm vụ đạt được không chỉ dừng lại ở giá trị khoa học thuần túy mà còn mang tính ứng dụng cao, có khả năng chuyển giao trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp sản xuất mây tre đan tại các tỉnh Tây Nguyên. Việc làm chủ quy trình nhân giống, gây trồng và bảo quản không chỉ giúp chủ động nguồn nguyên liệu tại chỗ mà còn góp phần giảm áp lực khai thác lên rừng tự nhiên, tạo thêm sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống gần rừng, đồng thời hỗ trợ thiết thực cho mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển lâm nghiệp bền vững mà Đề án 297/QĐ-TTg đã đề ra.

Nhiệm vụ Quỹ gen cấp Quốc gia "Khai thác và phát triển nguồn gen cây Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) và Song bột (Calamus poilanei Conrard) tại một số tỉnh vùng Tây Nguyên" do Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chủ trì thực hiện, dưới sự chủ nhiệm của TS. Phạm Trọng Nhân. Với hệ thống kết quả toàn diện từ điều tra, bảo tồn di truyền, xây dựng vườn giống đến hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống, gây trồng và bảo quản, nhiệm vụ đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời tạo tiền đề khoa học vững chắc để xây dựng vùng nguyên liệu mây bền vững, phục vụ mục tiêu xuất khẩu và phát triển kinh tế lâm nghiệp tại khu vực Tây Nguyên.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.