Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 308
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực triễn đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Bộ Khoa học và Công nghệ (10/07/2026)

Hoạt động đối ngoại luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm phát triển và hoàn thiện trong các giai đoạn. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đã khởi đầu quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại của đất nước ta. Trải qua nhiều kỳ Đại hội Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động đối ngoại đã có nhiều chuyển biến theo xu hướng “hội nhập quốc tế”.

 

 

Việt Nam đã có quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ với gần 70 tổ chức quốc tế, quốc gia và vùng lãnh thổ; đã có hơn 150 điều ước quốc tế (cấp Chính phủ) và hơn 80 thỏa thuận quốc tế (cấp Bộ) được ký kết. Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đảm nhiệm vai trò cơ quan đầu mối triển khai điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế nêu trên và là đầu mối hợp tác đa phương với nhiều tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng như ASEAN, APEC, COPUOS, APRSAF, APO, UNESCO, WTO, WIP, MUTRAP, IAEA... với các hoạt động hợp tác quốc tế song phương và đa phương trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân và một số lĩnh vực chuyên ngành khác.

Bên cạnh đó, hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN trong khuôn khổ đa phương được duy trì và phát triển, góp phần nâng cao vị thế và vai trò về khoa học và công nghệ của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Bộ KH&CN đã tham gia các diễn đàn quốc tế, đẩy mạnh sự tham gia sâu hơn của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế và khu vực như IAEA, ASEAN, APEC, COPUOS, APRSAF... Các hoạt động hợp tác về sở hữu trí tuệ được triển khai trong khuôn khổ WTO, APEC, ASEAN, hợp tác với WIPO, MUTRAP, các các cơ quan sở hữu trí tuệ trong khu vực và các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, CH Pháp, v.v, được duy trì và phát triển. Trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, các nghĩa vụ tham gia và tổ chức các sự kiện liên quan đến các tổ chức quốc tế và khu vực được thực hiện đầy đủ.

Trước chủ trương đường lối đối ngoại và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về việc chủ động tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; nâng vị thế quốc tế của Việt Nam; chú trọng công tác ngoại giao kinh tế, chủ động mở rộng, làm sâu sắc hơn hợp tác KH&CN trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cùng với việc chính phủ ban hành nhiều văn bản quy phạm liên quan đến công tác quản lý hoạt động đối ngoại và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN đã có sự điều chỉnh. Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực triễn đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Bộ Khoa học và Công nghệ” do ThS. Ninh Thị Huy Hoàng làm chủ nhiệm.

Trong quá trình xuyên suốt qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam, Đảng ta luôn khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm tối thượng, đồng thời góp phần tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Tư tưởng này được phát triển liên tục qua các kỳ Đại hội, từ “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nwocs” (Đại hội VII) đến “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI) và hiện nay được cụ thể hóa bằng mô hình ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang bản sắc “cây tre Việt Nam” (Đại hội XIII). Đây là quan điểm xuyên suốt thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn và phương pháp luận của Đảng tra trong xử lý các mối quan hệ đối ngoại, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa nguyên tắc kiện định và sách lược linh hoạt, giữa đối ngoại chính trị, đối ngoại kinh tế, đối ngoại văn hóa và đối ngoại khoa học- công nghệ.

Những thay đổi này cho thấy đường lối đối ngoại của của Đảng đã được cụ thể hóa ngày càng rõ nét trong pháp luật, tạo hành lang pháp lý vững chắc để Việt Nam triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế và phát triển khoa học, công nghệ. Hệ thống văn bản mới không chỉ điều chỉnh các hoạt động ngoại giao truyền thống mà còn mở rộng phạm vi điều chỉnh tới ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học, ngoại giao số và ngoại giao nhân dân, phản ánh đúng tinh thần “đối ngoại toàn diện, hiện đại”.

Nhìn chung, tổng thể quan điểm đối ngoại xuyên suốt của Đảng ta không chỉ là định hướng chính trị và chiến lược phát triển quốc gia, mà còn là nền tảng lý luận - pháp lý vững chắc để Việt Nam chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hung cường, sánh vai cùng các cường quốc năm châu trong thế kỷ XXI.

Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ bởi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số toàn cầu, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đây là chủ trương đường lối mới của Đảng và khuôn khổ pháp lý mới gợi mở nhiều định hướng quan trọng: Thứ nhất, đưa đối ngoại khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành trụ cột chiến lược của đối ngoại quốc gia, nhằm thu hút nguồn lực tri thức, công nghệ cao và đầu tư R&D quốc tế; Thứ hai, xây dựng cơ chế “ngoại giao tri thức - ngoại giao số” để kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, phát huy sức mạng “nguồn lực chất xám Việt toàn cầu”; Thứ ba, bảo đảm chủy quyền số, an ninh dữ liệu và tự chủ công nghệ, coi đây là nội dung hợp tác và đấu tranh mới trong ngoại giao hiện đại; Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa đối ngoại Đảng - ngoại giao Nhà nước đối ngoại khoa học, tạo sức mạnh tổng hợp để phục vụ công cuộc chuyển đổi số quốc gia và phát triển bền vững.

Bên cạnh cở sở lý luận, nhóm nghiên cứu đánh giá được thuận lợi và khó khăn cụ thể như sau:

- Về thuận lợi: Hội nhập quốc tế về KH&CN trong xu thế toàn cầu hóa được thể hiện rất rõ nét trong những năm gần đây. Ngày càng nhiều chương trình KH&CN trên quy mô khu vực và thế giới được triển khai, đòi hỏi có sự liên kết giữa cộng đồng KH&CN quốc tế. Các nước phát triển cũng quan tâm hỗ trợ nhiều hơn cho KH&CN của các nước đang phát triển. Bối cảnh chung đó tạo điều kiện cho Việt Nam - một nước đi sau có thêm nhiều cơ hội hợp tác về KH&CN. Điều này được phản ánh rõ nét ở hoạt động của một số đơn vị của Bộ KH&CN như khối năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ hạt nhân, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng là những đơn vị đang nắm bắt, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển; Hội nhập quốc tế về KH&CN trong những năm qua được coi là một trong những mảng hoạt động KH&CN có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động các nguồn lực, xây dựng tiềm lực KH&CN và thúc đẩy giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nhiều Chương trình KH&CN đã được chú trọng lồng ghép các hoạt động hợp tác quốc tế khi triển khai, tạo điều kiện cho các hoạt động giao lưu học thuật, hợp tác nghiên cứu, đào tạo gắn với các vấn đề nghiên cứu thiết thực của đơn vị chủ trì; Thời gian qua, Bộ KH&CN cũng như các đơn vị thuộc Bộ đã tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực một cách hiệu quả và có chiều sâu hơn; hợp tác song phương ngày càng được tăng cường; Các kênh hỗ trợ kinh phí ngày càng đa dạng, tạo điều kiện linh hoạt hơn cho việc tìm kiếm đối tác và tranh thủ cơ hội hợp tác. Một số đơn vị đã tranh thủ được sự hỗ trợ rất lớn từ đối tác nước ngoài, đặc biệt là các đơn vị thuộc khối năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

- Về khó khăn: - Thời gian qua, việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách cho các hoạt động hợp tác quốc tế còn hạn hẹp, được cấp đều qua các năm cho các đơn vị phục vụ công tác thường xuyên của Lãnh đạo Bộ, các đơn vị thực hiện vai trò đại diện của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế. Do đó, một số đơn vị trong Bộ không có nguồn kinh phí để chủ động thực hiện các hoạt động ưu tiên trong năm, đôi khi dẫn đến khó khăn hoặc bỏ lỡ cơ hội hợp tác với nước ngoài; Sự tồn tại hiện tượng lệch pha về năm tài khóa giữa Việt Nam và một số đối tác, hoặc tình trạng chậm cấp kinh phí đã có những ảnh hưởng ít nhiều đến việc triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế. Việc tham dự một số sự kiện quốc tế đôi khi bị hạn chế do tại thời điểm diễn ra sự kiện, phía Việt Nam chưa có kinh phí để thực hiện.

Trước bối cảnh hội nhập quốc tế càng sâu rộng, công tác đối ngoại của Bộ KH&CN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên vẫn còn không ít tồn tại và thách thức cần giải quyết. Để nâng cao hiệu quả và tạo bước đột phá trong hoạt động đối ngoại của Bộ ta trong bối cảnh mới, nhằm tận dụng tối đa các cơ hội từ hội nhập, đồng thời bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và quản lý hoạt động đối ngoại của Bộ KH&CN trong bối cảnh mới: Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách và khuôn khổ pháp lý; Nhóm giải pháp về định hướng chiến lược và quy hoạch đối ngoại; Nhóm giải pháp về quản lý, điều phối và số hóa hoạt động đối ngoại; Nhóm giải pháp về thúc đẩy hợp tác, xúc tiến thương mại và truyền thông quốc tế; Nhóm giải pháp về tăng cường năng lực của tổ chức và nguồn nhân lực; Nhóm giải pháp đảm bảo nguồn lực tài chính. Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu đã đề xuất các nội dung chỉnh sửa, bổ sung cho Quyết định 2555/QĐ-BKHCN ngày 08/9/2014, làm sản phẩm báo cáo chính của Đề án.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.