Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 305 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với chiến lược phát triển chính phủ số đến năm 2030 (13/07/2026)
Với mục tiêu nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, quy trình nghiệp vụ hành chính phục vụ phát triển chính phủ số và đề xuất các giải pháp, chỉ dẫn cụ thể về hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số ở Việt Nam đến năm 2030. Học viện Hành chính và Quản trị công tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với chiến lược phát triển chính phủ số đến năm 2030” do PGS.TS Nguyễn Văn Hậu làm chủ nhiệm.
Nghiên cứu đã góp phần làm rõ nền tảng khoa học của quản trị nhà nước hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Chính phủ số như một giai đoạn phát triển cao hơn của Chính phủ điện tử. Cơ sở lý luận về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và quy trình nghiệp vụ hành chính trong môi trường số đã được hệ thống hóa một cách tương đối đầy đủ. Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy tác động đa chiều của công nghệ số tới cấu trúc và phương thức vận hành của bộ máy hành chính, từ đó đặt ra những yêu cầu đổi mới toàn diện, đồng bộ và liên ngành.
Phương pháp tiếp cận đa dạng (định tính, định lượng, phân tích so sánh và thử nghiệm) giúp đề tài không chỉ đưa ra khung lý luận mà còn cung cấp bằng chứng thực tiễn từ trong nước và quốc tế. Cách tiếp cận này đảm bảo tính khách quan, khoa học, đồng thời cho phép đánh giá đa chiều về khả năng áp dụng trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam.
Kinh nghiệm từ Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Singapore, Pháp, Đan Mạch và nhiều quốc gia khác chỉ ra rằng, sự thành công của Chính phủ số phụ thuộc trước hết vào thể chế pháp lý linh hoạt, cơ chế phối hợp hiệu quả và năng lực số của đội ngũ công chức. Các quốc gia đi trước đều xây dựng lộ trình rõ ràng, tập trung phát triển dữ liệu mở, hệ thống nền tảng dùng chung và lấy công dân làm trung tâm. So sánh với Việt Nam, có thể thấy rằng quá trình chuyển đổi số đang diễn ra nhanh chóng nhưng chưa thực sự đồng bộ, đặc biệt ở phương diện liên thông dữ liệu, khung pháp lý thí điểm mô hình mới, và kỹ năng số của cán bộ công chức.
Từ kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những bài học then chốt: (i) cần sự cam kết mạnh mẽ và liên tục của người đứng đầu; (ii) cần cơ chế gắn kết giữa trung ương và địa phương; (iii) dữ liệu phải được coi là tài sản chiến lược; và (iv) phát triển văn hóa số trong khu vực công là điều kiện tiên quyết để thay đổi tư duy và hành vi quản trị.
Khảo sát thực tiễn cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng: chiến lược, định hướng phát triển Chính phủ số được ban hành kịp thời; các nền tảng số quốc gia bước đầu đi vào hoạt động hiệu quả; hạ tầng dữ liệu số và các cơ sở dữ liệu quốc gia đã hình thành. Việt Nam cũng đã tăng bậc đáng kể trong bảng xếp hạng EGDI của Liên Hợp Quốc, phản ánh sự cải thiện về mức độ sẵn sàng của Chính phủ số.

Các phân hệ chính của Hệ thống điều hành tập trung.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế đáng lưu ý: thể chế, pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ; sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương còn phân tán, dẫn đến tình trạng “cát cứ dữ liệu”; kỹ năng số của một bộ phận công chức và người dân còn hạn chế; hạ tầng số chưa đồng đều; và văn hóa số chưa được hình thành vững chắc. Những thách thức này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, tái cấu trúc quy trình và nâng cao năng lực số.
Đề tài đã đóng góp nền tảng khoa học để nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với Chiến lược phát triển Chính phủ số đến năm 2030, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để hiện thực hóa các mục tiêu của Chiến lược phát triển Chính phủ số, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, chất lượng dịch vụ công và niềm tin của người dân vào Nhà nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và thực hiện mạnh mẽ việc sáp nhập, tinh gọn bộ máy, kiến nghị hệ thống các cơ quan nhà nước tập trung nghiên cứu, thực hiện một số đề xuất sau:
1. Quốc hội, Chính phủ cần tập trung hoàn thiện hệ thống thể chế, trọng tâm là các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xây dựng Chính phủ số: Định hướng xây dựng Luật Chính phủ số, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Trí tuệ nhân tạo ban hành các Nghị định hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử, trong đó quy định cụ thể về việc ứng dụng công nghệ trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện đổi mới, sáng tạo, chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu mở, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và quản trị quốc gia hiện đại, điệu quả.
Hoàn thiện thể chế nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở, trong các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số (mua sắm trang thiết bị, phần mềm, tập huấn, tuyển dụng nhân lực công nghệ thông tin, bồi dưỡng kỹ năng số, văn hóa số cho cán bộ, công chức…). Cũng cần lưu ý các quy định về phân cấp ở đây phải thực chất, phân cấp gắp với phân quyền, nhiều vấn đề hiện nay về thực chất vẫn chỉ là ủy quyền hoặc phân công, khiến cho cấp địa phương không có cơ sở để thực thi một cách chủ động, sáng tạo, vẫn phải chờ sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì triển khai xây dựng Khung Kiến trúc Chính phủ số phiên bản 5.0; Bộ Công an chủ trì xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia trên nền tảng cơ sở hạ tầng điện toán đám mây và triển khai thành các vùng chức năng để phục vụ nhu cầu của cơ quan nhà nước bảo đảm việc phát triển các phân hệ tích hợp, đồng bộ, khai thác dữ liệu, yêu cầu cao về bảo mật thông tin; hoàn thiện, mở rộng các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, của bộ ngành, địa phương; thúc đẩy triển khai các cơ sở dữ liệu quốc gia ứng dụng các công nghệ mới nhằm tạo lập nền tảng phát triển Chính phủ số.
3. Đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ, ưu tiên hạ tầng dữ liệu mở và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia. Coi dữ liệu là tài sản chiến lược, xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu dựa trên nguyên tắc “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng” (Nhà nước chỉ thu thập thông tin cá nhân của công dân duy nhất một lần trong các giao dịch giữa Nhà nước với công dân). Từng bước phát triển hệ thống phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo phục vụ ra quyết định chính sách, hướng tới quản trị dự báo và quản trị thông minh.
Đối với các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành cần ứng dụng các công nghệ tiến tiến, trong đó dữ liệu cần được số hóa, chuẩn hóa, thu thập, tổng hợp, lưu trữ vào các kho dữ liệu tập trung, hay hồ chứa dữ liệu (DataWarehouse, Data Lake), từ đó sử dụng các công nghệ mới như Big Data, AI để phân tích dữ liệu, dự báo và hỗ trợ các cơ quan nhà nước ra quyết định.
4. Xây dựng hạ tầng số quốc gia và các tài sản số quốc gia, hoàn thiện hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng, nâng cao chất lượng đường truyền Internet cung cấp dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp, thương mại hóa 5G, xóa các vùng lõm sóng. Chú trọng phát triển hạ tầng dữ liệu số, bảo đảm hạ tầng dữ liệu phải được hình thành trên cơ sở số hóa các dữ liệu đang có và liên tục tiếp nhận các dữ liệu số hóa mới, từ đó từng bước mở dữ liệu của Chính phủ, hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận được dữ liệu của Chính phủ, xây dựng các ứng dụng phục vụ phát triển nền kinh tế số.
Thực hiện tái cấu trúc cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, theo hướng kết hợp giữa mô hình tập trung và mô hình phân tán dựa trên công nghệ điện toán đám mây, tối ưu hóa hạ tầng công nghệ thông tin nhằm khai thác sử dụng hiệu quả hạ tầng hiện có, đồng thời tăng cường khả năng bảo mật, sao lưu, phòng chống thảm họa, bảo đảm vận hành ổn định, an toàn thông tin, an ninh mạng của các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu.
5. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và thực thi pháp luật về chuyển đổi số trên nguyên tắc không làm tăng biên chế cán bộ, công chức; không làm tăng tổ chức, bộ máy của cơ quan nhà nước theo yêu cầu của Kết luận số 28-KL/TW ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;
6. Hình thành Mạng lưới chuyển đổi số từ Trung ương đến cơ sở, Tổ công nghệ số cộng đồng, Tổ phản ứng nhanh, có sự tham gia của cơ quan nhà nước các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp, người dân nhằm huy động tối đa các nguồn lực xã hội, thu hút toàn dân tham gia chuyển đổi số quốc gia; tổ chức và duy trì các diễn đàn trao đổi, giải đáp thắc mắc, chia sẻ kinh nghiệm về chuyển đổi số.
7. Ưu tiên phân bổ nguồn lực đầu tư và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chuyển đổi số, đủ về số lượng, hài hòa về cơ cấu, phù hợp theo đặc thù lĩnh vực, vùng, miền với đầy đủ công cụ, nền tảng số phục vụ hoạt động công vụ. Cán bộ tham mưu và thực thi pháp luật về chuyển đổi số từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp xã, phải được đào tạo về chuyên môn, kỹ năng số, quản lý nhà nước, ngoại ngữ và các yêu cầu khác phục vụ công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi số.
8. Đề xuất xây dựng Bộ chỉ số phục vụ chỉ đạo, điều hành và kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ với 04 nhóm chỉ số, mỗi nhóm được thiết kế thành các cụm chỉ số liên quan.
9. Phân loại dữ liệu theo cấp độ truy cập: Công khai (Public); Nội bộ (Internal); Nhạy cảm; Tối mật (Restricted/Highly Confidential), để bảo đảm an toàn, bảo mật và tránh những rủi ro ngày càng cao liên quan đến rò rỉ, thất thoát hoặc truy cập trái phép. Việc phân quyền trong việc truy cập và khai thác, sử dụng dữ liệu là hết sức cần thiết.
10. Đề xuất thực hiện chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến với quy trình 6 bước: Bước 1 - Lựa chọn thủ tục hành chính; Bước 2 - Phân tích quy trình thực hiện thủ tục hành chính; Bước 3 - Tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính; Bước 4 - Đánh giá hiệu quả; Bước 5 - Cung cấp dịch vụ công trực tuyến; Bước 6 - Đánh giá hoàn thiện
11. Đề xuất thực hiện chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước thống nhất theo nguyên tắc: (1) Khoa học, nghiêm túc, hiệu quả, tiết kiệm, khách quan, minh bạch; (2) Đúng pháp luật và phù hợp với lộ trình thực hiện Chính phủ điện tử, cải cách hành chính nhà nước và xu thế chung của thế giới; (3) Phù hợp với Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam; (4) Phù hợp với Chiến lược phát triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030; (5) Phù hợp với thực tiễn cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước; (6) Tăng cường thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện cơ chế mở.
12. Đề xuất bổ sung, hoàn thiện các nghiệp vụ văn thư – lưu trữ điện tử đang thực hiện trong thực tế, phù hợp với xu hướng quản lý tài liệu lưu trữ điện tử được quy định trong Luật Lưu trữ 2024.
13. Tiếp tục cụ thể hoá nguyên tắc thu hút và tăng cường sự tham gia của công dân và xã hội trong xây dựng chính sách, pháp luật nói chung, thu hút và tăng cường sự tham gia của công dân và xã hội trong xây dựng chính sách, pháp luật về chính phủ điện tử, chính phủ số nói riêng.
14. Đề xuất khung năng lực số của cán bộ, công chức: Xây dựng khung năng lực số của cán bộ, công chức làm cơ sở cho việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức trên môi trường số. Trên cơ sở khung năng lực đó, các cơ quan hành chính nhà nước cần xác định được khoảng trống về năng lực của cán bộ, công chức nhất là khoảng trống về kỹ năng số.
15. Xây dựng và phát triển văn hóa số cần có sự kết hợp phù hợp giữa các phương pháp tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên, nhằm thu hút, trao quyền và truyền cảm hứng cho nhân viên. Trong đó, vai trò của các nhà lãnh đạo là quan trọng trong việc định hướng giá trị và tạo ra sự thay đổi trong tổ chức. Quá trình này sẽ bao gồm 3 giai đoạn: (i) Xác định yêu cầu của sự thay đổi trong các các cơ quan, tổ chức; (ii) Tiến hành sự chuyển đổi văn hóa; (iii) Điều chỉnh tổ chức để gắn kết văn hóa mới.
16. Xây dựng và hoàn thiện khung chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng số cho cán bộ, công chức, bao gồm các nhóm chuyên để cơ bản.
17. Lồng ghép, hợp nhất các chỉ số đánh giá mức độ phát triển Chính phủ số vào các bộ chỉ số hiệu quả hành chính công.
Như vậy, để thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính, chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số ở Việt Nam một cách có hệ thống và đồng bộ, cần có công trình cấp quốc gia để nghiên cứu đáp ứng chiều sâu về lý luận, tầm rộng về khảo sát thực tiễn, đặc biệt là kinh nghiệm quốc tế, các bài học thành công và thất bại rút ra cho Việt Nam, để từ đó để xuất giải pháp về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính. Các nội dung xây dựng, phát triển Chính phủ số là vấn đề không mới, nhưng luôn đòi hỏi có cách tiếp cận, xem xét vấn đề mang tính hệ thống cao về lý luận, vận dụng cơ sơ lý thuyết của khoa học liên ngành, cũng như tính liên bộ, liên cơ quan về thực tiễn và giải pháp. Các văn bản định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước cũng mới được ban hành, nhưng yêu cầu về các mục tiêu rất cao và nhiệm vụ cũng rất nhiều với yêu cầu tiến độ thời gian rất khẩn trương. Nghiên cứu ở cấp độ tổng quát sẽ giúp phác họa bức tranh tổng thể, phục vụ tư vấn chính sách cho Chính phủ, góp phần xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Luật Chính phủ số, đồng thời, cung cấp những chỉ dẫn khoa học để triển khai cụ thể các nhiệm vụ cải cách hành chính, phát triển Chính phủ số tại các bộ, ngành và địaphương.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Xây dựng mô hình nhân giống, sản xuất sen theo chuỗi giá trị gắn với phát triển du... (15/07/2026)
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực triễn đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt... (10/07/2026)
- Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất theo hướng hữu cơ cho cây cà chua... (08/07/2026)
- Xác định tỷ lệ đóng góp của các nguồn nước từ thượng lưu về đồng bằng sông Cửu Long... (06/07/2026)
- Bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Mây chỉ và Song bột tại các tỉnh Tây Nguyên (03/07/2026)
