Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 1374
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu công nghệ sản xuất các chế phẩm vi sinh để xử lý bã dong riềng (04/05/2026)

Cây dong riềng có tên khoa học là Canna elidus Ker. Dong riềng chưa phải là cây ừồng chủ lực Quốc Gia nhưng được xếp là cây trồng chủ lực các tỉnh miền núi Trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ như: Tuyên Quang, Thái nguyên (Bắc Kạn cũ), Sơn La, Mộc Châu, Phú Thọ (Hòa Bình cũ), Nghệ An ....Theo thống kê chưa đầy đủ, ước tính ở Việt Nam, dong riềng được trồng với diện tích khoảng 30.000 ha, sản xuất hàng năm gần 300.000 tấn củ tươi và có xu hướng ngày càng tăng. Tinh bột dong riềng và miến dong là hai loại sản phẩm được chế biến từ củ dong riềng ở các làng nghề hoặc họp tác xã sản xuất.

Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu tận thu bã dong riềng hay các nguồn phụ phẩm khác làm phân bón hữu cơ, làm thức ăn gia súc... Đối với sản xuất phân bón hữu cơ, một số nghiên cứu thực hiện theo phương pháp phối trộn tự nhiên, trong đó than bùn được trộn với các phụ phẩm nông nghiệp và phân chuồng, thêm một tỷ lệ thấp phân hóa học đạm, lân và kali. Quy trình ủ và phối trộn dựa chủ yếu vào hệ vi sinh vật hoang dại có sẵn ừong phân, rác và một phần do tác dụng các axit mùn (axit humic, íiilvic...) có sẵn ừong than bùn vì vậy thời gian ủ trộn kéo dài, chất lượng không ổn định vì không có sự chọn lọc các chủng vi sinh vật. Trong sản xuất thức ăn gia súc, bã dong riềng cũng được lên men theo phương pháp tự nhiên tức là sử dụng hệ vi sinh vật có sẵn ừong nguyên liệu thì dễ bị thối hỏng do nguyên liệu có độ ẳm cao, mật độ vi khuẩn lactic thấp nên vi khuẩn yếm khí thuộc nhóm Cỉostrỉdỉum sẽ sinh trưởng lấn át với mật độ cao ừong thức ăn, dẫn đến dễ làm hỏng thức ăn.

Để xử lý bã dong riềng đạt hiệu quả kinh tế và môi trường quy mô công nghiệp cần tiến hành nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh chuyên biệt để ứng dụng sản xuất phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi từ bã dong riềng. Do vậy, xuất phát từ cơ sở khoa học và tính cấp thiết, Viện Cơ điện nông nghiệp vafcoong nghệ sau thu hoạch thực hiện đề tài: “Nghiên ám công nghệ sản xuất các chế phẩm vi sinh ãể xử lý bã dong riềng”. Nội dung triển khai đề tài bao gồm: (1) Tuyển chọn chủng vỉ sinh vật ứng dụng xử lý bã dong riềng làm phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi; (2) Nghiên cứu công nghệ tạo chế phẩm vi sinh xử lý bã dong riềng làm phân bón hữu cơ; (3) Nghiên cứu công nghệ tạo chế phẩm vi sinh dạng bột xử lý bã dong riềng để sản xuất thức ăn chăn nuôi; (4) ứng dụng thử nghiệm chế phẩm vi sinh xử lý bã dong riềng làm phân bón hữu cơ; (5) ửng dụng thử nghiệm chế phẩm vi sinh xử lý bã dong riềng làm thức ăn chăn nuôi

(1) Tuyển chọn chủng vỉ sinh vật ứng dụng xử lý bã dong riềng làm phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi:

Đã tuyển chọn được 3 chủng: Trichoderma D5, Trichoderma DI9, Trichoderma D25 đều có khả năng ức chế với 3 chủng nấm gây bệnh là: c. musae MS2, L. theobromae LT3, T. paradoxa; hệ số biến động sai số thí nghiệm chấp nhận đuợc, hệ số biến động dao động từ 8,3 - 15,6 đều nhỏ hcm 20%, với độ tin cậy 95% (P < 0,05). Trong 3 chủng, Trichoderma D5 có khả năng ức chế mạnh nhất, đạt 91,3% đối với c. musae MS2; 77,2% đối với T. paradoxa và 70,2% đối với L. theobromae LT3. Nghiên cứu của Ganesan và cs (2009) cũng cho thấy, khả năng ức chế với từng loại nấm gây bệnh của các chủng Trichoderma là khác nhau. Chủng Trichoderma TV9 có khả năng ức chế L. theobromae cao nhất, đạt 91,7%, đối với c. musae là 54,8%.

 Đã tuyển chọn được 03 chủng vi khuẩn lactic ứng dụng xử lý bã dong riềng làm thức ăn chăn nuôi, đó là Lactobacillus acidophilus DR9; Lactiplantỉbacỉllus pỉantarum DR27 và Lactỉplantibacỉlluspỉantarum DM6.

 

Hình ảnh cây và khóm dong riềng được bón phân hữu cơ từ bã dong riềng D5.

(2) Nghiên cứu công nghệ tạo chế phẩm vi sinh xử lý bã dong riềng làm phân bón hữu cơ:

Đã đề xuất được 01 quy trình công nghệ tạo chế phẩm vi sinh dạng bột xử lý bã dong riềng để sản xuất phân bón vi sinh, quy mô 250 kg sản phẩm/mẻ.

 

 

+ Đã sản xuất thử nghiệm được 700 kg chế phẩm vi sinh PBDR5-VIAEP. Sản phẩm có độ ẩm < 12%; Mật độ tế bào đạt > 108 CFU/g. Ước tính giá thành cho lkg chế phẩm khoảng 59.000 đồng/kg

(3) Nghiên cứu công nghệ tạo chế phẩm vi sinh dạng bột xử lý bã dong riềng để sản xuất thức ăn chăn nuôi:

+ Đã đề xuất được 01 quy trình công nghệ tạo chế phẩm vi sinh dạng bột xử lý bã dong riềng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, quy mô 250 kg sản phẩm/mẻ.

+ Đã sản xuất thử nghiệm được 700 kg chế phẩm vi sinh TADR27-VIAEP. Sản phẩm có độ ẩm < 9%; Mật độ tế bào đạt > 108 CFU/g. Ước tính giá thành cho lkg chế phẩm vi sinh TADR27-VIAEP khoảng 150.000 đồng/kg.

(4) Ứng dụng thử nghiệm chế phẩm vi sinh xử lý bã dong riềng làm phân bón hữu cơ:

+ Đã xây dựng được 01 quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ từ bã dong riềng, quy mô 10 tấn/mẻ.

+ Đã sản xuất được 12 tấn phân bón hữu cơ từ bã dong riềng. Sản phẩm có độ ẩm 27,4-28,7%; giá trị pH 6,8 - 7,1; hàm lượng hữu cơ 27,4 - 28,7%; tỷ lệ C/N 6,8 - 6,9; P2O5 1,15 - 1,3%; K2O 1,5 - 1,64%. Các chỉ tiêu an toàn đạt theo QCVN 01- 189:2019/BNNPTNT. Chi phí sản xuất phân hữu cơ D5 khoảng 1.700 đồng/kg.

+ Đã lựa chọn Hợp tác xã Tài Hoàn làm địa điểm thực hiện thử nghiệm phân bón hữu cơ từ bã dong riềng trên cây dong riềng với quy mô 1 ha. Kết quả năng suất ở vụ sản xuất đầu tiên đạt 71,88 tấn/ha, cao hơn so với công thức đối chứng bón phân hữu cơ theo canh tác truyền thống.

(5) Ứng dụng thử nghiệm chế phẩm vi sinh xử lý bã dong riềng làm thức ăn chăn nuôi:

+ Đã xây dựng quy trình công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi từ bã dong riềng, quy mô 10 tấn/mẻ.

+ Đã sản xuất được 13 tấn thức ăn chăn nuôi từ bã dong riềng. Sản phẩm có độ ẩm 56-58 %; giá trị pH 3,94 - 4,14; hàm lượng protein 7,1-7,5 %; hàm lượng tro thô

4,08-4,2 %. Các chỉ tiêu an toàn đạt theo QCVN 01-190:2020/BNNPTNT. Chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi từ bã dong riềng khoảng 1.023 đồng/kg.

+ Đã bước đầu thử nghiệm bã dong riềng lên men trong chăn nuôi bò lai F1 (BBB X Lai Sind). Sau 6 tháng thử nghiệm cho bò ăn bã dong riềng lên men thay thế 30% - 40% cỏ voi tươi cho: tăng trọng 996,7 - 1032,8 g/con/ngày, tiêu tốn VCK/lkg tăng trọng ở mức 10,22 kg và 10,45 kg (giảm 0,40 - 0,54kg so với đối chứng).

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.