Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 3062 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Chủ động nguồn giống cá mú đen chấm nâu: Hướng đi mới cho nghề nuôi biển Bình Định (14/09/2026)
Trên bàn cân giá cả tại thị trường thủy sản Hồng Kông – nơi được xem là "hàn thử biểu" của ngành cá mú châu Á – cá mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides) tuy không có giá bán cao bằng cá mú chuột hay cá mú vằn, nhưng luôn chiếm tới 50-60% tổng sản lượng trong số 10 loài cá mú được giao dịch. Bí quyết nằm ở tốc độ sinh trưởng vượt trội: chỉ sau một năm nuôi, cá mú đen chấm nâu đã có thể đạt kích cỡ thương phẩm 0,8-1,2kg/con, trong khi các loài cá mú khác như cá mú chuột hay cá mú chấm đỏ phải mất đến hai năm mới đạt kích cỡ tương đương (0,4-0,5kg/con). Cộng thêm khả năng kháng bệnh tốt, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp và chịu đựng tốt trong điều kiện nuôi mật độ cao, đây được xem là một trong những đối tượng nuôi biển lý tưởng nhất cho vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Thế nhưng, tiềm năng đó gần như bị "khóa chặt" bởi một nút thắt cố hữu: nguồn giống. Tại Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng, việc nuôi cá mú đen chấm nâu thương phẩm bấy lâu nay chủ yếu phụ thuộc vào con giống đánh bắt ngoài tự nhiên hoặc nhập khẩu từ nước ngoài. Sự phụ thuộc này khiến chất lượng và số lượng con giống luôn bấp bênh, không chủ động được kế hoạch sản xuất, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh và suy giảm nguồn lợi tự nhiên. Trong khi đó, việc sản xuất giống nhân tạo đòi hỏi phải giải quyết đồng thời nhiều khâu kỹ thuật phức tạp: từ thu gom, tuyển chọn, thuần dưỡng cá bố mẹ, quản lý thành thục sinh dục, cho sinh sản, đến ấp trứng và ương nuôi ấu trùng – mỗi khâu đều gắn chặt với chất lượng môi trường nuôi.
Một đặc điểm sinh học khiến bài toán con giống càng thêm khó: cũng như phần lớn các loài cá mú khác, cá mú đen chấm nâu là loài lưỡng tính chuyển đổi giới tính từ cái sang đực (protogynous hermaphrodite). Khi còn nhỏ, toàn bộ đàn cá đều là cá cái; chỉ sau một thời gian nuôi, một số cá thể mới tự chuyển hóa thành cá đực, và quá trình này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường sống. Nếu chỉ trông chờ vào sự chuyển đổi tự nhiên, các trại giống sẽ rất khó chủ động được tỷ lệ đực – cái cần thiết, tốn kém thời gian, công sức và không thể sản xuất số lượng giống lớn do luôn thiếu hụt cá đực. Đây chính là lý do khiến nghề nuôi cá mú đen chấm nâu tại nhiều địa phương ven biển, trong đó có Bình Định, dù có tiềm năng thị trường và điều kiện tự nhiên thuận lợi, vẫn chưa thể phát triển tương xứng.
Trước thực trạng đó, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định đã phê duyệt triển khai đề tài "Nghiên cứu thực nghiệm sinh sản nhân tạo, ương và nuôi thương phẩm cá mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides, Hamilton, 1822) tại Bình Định", giao Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền Bắc thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I làm đơn vị thực hiện. Đề tài đặt ra bốn mục tiêu: xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo giống cá mú đen chấm nâu phù hợp điều kiện tự nhiên tại Bình Định; xây dựng quy trình ương nuôi cá từ giai đoạn cá bột đến cá giống; xây dựng quy trình nuôi thương phẩm phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương; và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình nuôi thương phẩm.

Hình thái ngoài cá mú đen chấm nâu (E coioides).
Cuối năm 2019, nhóm nghiên cứu bắt đầu với 10 con cá bố mẹ thu gom từ các bè nuôi thương phẩm tại khu vực Vũng Rô, Phú Yên, chuyển về nuôi tại Bình Định. Nhờ được thu từ đàn cá đã thích nghi với điều kiện nuôi nhốt 2-3 năm, tỷ lệ sống trong quá trình thuần dưỡng và nuôi vỗ đạt tuyệt đối 100%, kể cả khi trải qua những đợt biến động môi trường mạnh, như lần độ mặn giảm đột ngột từ 29-30‰ xuống còn 16-17‰ chỉ trong vài giờ do mưa lớn vào tháng 12/2019.
Điểm nhấn kỹ thuật quan trọng nhất của đề tài nằm ở khâu chủ động chuyển đổi giới tính cá bố mẹ. Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm sử dụng hormone MT (methyltestosterone) trên 10 cá thể 4 tuổi, trọng lượng trung bình 4,2kg: 6 con nuôi vỗ bình thường làm đối chứng, 4 con được tiêm MT theo ba đợt, cách nhau 10 ngày. Kết quả cho thấy, trong khi đàn đối chứng chỉ có 20% cá tự chuyển đổi giới tính, thì ở nhóm được tiêm MT, tỷ lệ chuyển đổi đạt tới 50% với tổng liều lượng chỉ 10,2mg MT/kg thể trọng – một con số được đánh giá là khá kinh tế so với các nghiên cứu quốc tế trước đó (một nghiên cứu của tác giả Shinn-Lih Yeh dùng tổng liều tới 31mg/kg mới đạt tỷ lệ chuyển đổi 86-90%). Nhờ vậy, nhóm nghiên cứu đã chủ động khắc phục được tình trạng thiếu cá đực – vốn là điểm nghẽn lớn nhất trong sản xuất giống nhân tạo loài cá này.
Sau khi có đủ cá bố mẹ thành thục với tỷ lệ đực - cái hợp lý (duy trì ở mức khoảng 40% đực, 60% cái), cá được đưa vào bể đẻ hình trụ tròn thể tích 30m³, kích thích sinh sản bằng kết hợp giữa dòng nước chảy tự nhiên (thay 300% nước/ngày) và tiêm kích dục tố HCG liều 1.000 UI/kg cho cá cái. Qua ba đợt cho đẻ trong năm 2020, tỷ lệ cá tham gia sinh sản đạt trung bình 90%, tỷ lệ thụ tinh của trứng đạt 76,81%, tỷ lệ trứng nở đạt 85,24%. Mỗi cá cái nặng 3-4kg đẻ trung bình 1,05-1,2 triệu trứng/vụ.
Song song với khâu sinh sản, đề tài đã xây dựng cả một hệ sinh thái thức ăn tươi sống phục vụ ương nuôi ấu trùng, bao gồm quy trình nuôi tảo Nannochloropsis oculata, nuôi sinh khối luân trùng (Brachionus plicatilis) và gây nuôi copepoda – những mắt xích thức ăn tự nhiên không thể thay thế trong giai đoạn đầu đời của cá mú. Quá trình ương nuôi được chia thành ba giai đoạn kế tiếp: từ cá bột một ngày tuổi lên cá hương 2-3cm, tỷ lệ sống đạt 6,14-8,2%; từ cá hương 2-3cm lên cá giống nhỏ 5-7cm, tỷ lệ sống tăng vọt lên 74,48-83,44%; và từ cá giống nhỏ lên cá giống lớn 10-12cm, tỷ lệ sống đạt 78,8-84,99%. Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sống giữa giai đoạn cá bột và các giai đoạn sau phản ánh đúng quy luật sinh học phổ biến ở cá biển: giai đoạn ấu trùng luôn là "cửa ải" khó khăn nhất, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ về dinh dưỡng và môi trường.
Khi cá giống đạt kích cỡ 10-12cm, nhóm nghiên cứu chuyển sang thực nghiệm nuôi thương phẩm trong lồng tại hai địa điểm là Đề Gi (huyện Phù Cát) và đầm Thị Nại (thành phố Quy Nhơn), với tổng cộng 5.400 con giống, sử dụng lồng khung tre truyền thống kích thước 3m x 3m x 3m – loại lồng phổ biến, chi phí thấp, dễ nhân rộng trong dân. Cá được nuôi ở ba mật độ khác nhau (10, 15 và 20 con/m³) để so sánh hiệu quả. Sau 12 tháng nuôi, cá đạt khối lượng trung bình 1.204,16g/con (dao động 1.067,3-1.457,2g/con) từ khối lượng thả ban đầu chỉ 90,32g/con. Tốc độ tăng trưởng giữa ba mật độ nuôi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, nhưng tỷ lệ sống lại giảm dần khi mật độ tăng: 64% ở mật độ 10 con/m³, 62,61% ở 15 con/m³ và 61,88% ở 20 con/m³. Bù lại, năng suất nuôi (kg/m³) lại tăng theo mật độ, đạt cao nhất 13,52kg/m³ ở mật độ 20 con/m³, so với chỉ 7,24kg/m³ ở mật độ 10 con/m³ – cho thấy bài toán lựa chọn mật độ nuôi tối ưu cần cân bằng giữa tỷ lệ sống và tổng sản lượng thu hoạch.
Về hiệu quả kinh tế, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) trung bình của mô hình đạt 3,03, với tổng khối lượng cá thương phẩm thu được là 3.747,8kg từ 11.340kg thức ăn sử dụng. Giá thành sản xuất một kilôgam cá mú đen chấm nâu thương phẩm dao động từ 138.610 đến 155.930 đồng, trong khi tỷ suất lợi nhuận trung bình đạt tới 40,52%/năm – một con số đủ hấp dẫn để thu hút các hộ nuôi tham gia mở rộng mô hình. Thực tế, hai hộ dân trực tiếp tham gia mô hình tại Đề Gi và Thị Nại đã đối ứng cơ sở vật chất như lồng bè, phương tiện vận chuyển, nhân công và một phần thức ăn, cho thấy tín hiệu tích cực về khả năng xã hội hóa và nhân rộng kết quả nghiên cứu ra thực tế sản xuất.
Sau hơn hai năm triển khai (2019-2022), đề tài đã đạt được mục tiêu cốt lõi là xây dựng thành công quy trình sản xuất giống nhân tạo cá mú đen chấm nâu khép kín, phù hợp điều kiện tự nhiên tại Bình Định, với tỷ lệ sống trong thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ đạt 100%, tỷ lệ thành thục ở cá cái 83,33% và cá đực 100%, tỷ lệ thụ tinh 76,81% và tỷ lệ nở 85,24%. Quy trình ương nuôi qua ba giai đoạn và quy trình nuôi thương phẩm trong lồng với hiệu quả kinh tế rõ rệt cũng đã được hoàn thiện và kiểm chứng qua thực tế sản xuất tại hai mô hình trình diễn.
Trên cơ sở kết quả đạt được, nhóm thực hiện đề tài đề xuất một số khuyến nghị mang tính ứng dụng cao: mật độ ương phù hợp nhất cho giai đoạn cá bột lên cá hương là 2.500-3.000 con/m³, giai đoạn cá hương lên cá giống nhỏ là 250-300 con/m³, và giai đoạn cá giống nhỏ lên cá giống lớn là 80-100 con/m³; đối với nuôi thương phẩm trong lồng, mật độ 15-20 con/m³ được xem là phù hợp nhất với điều kiện vùng biển Bình Định. Toàn bộ quy trình kỹ thuật – từ sản xuất giống, ương nuôi đến nuôi thương phẩm – được đề xuất bàn giao cho Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh và các đơn vị liên quan để tiếp tục phổ biến, nhân rộng cho người nuôi trong tỉnh. Đàn cá bố mẹ còn lại của đề tài cũng được đề nghị giao cho Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh Bình Định tiếp tục quản lý, khai thác phục vụ sản xuất giống trong những năm tiếp theo.
Đề tài "Nghiên cứu thực nghiệm sinh sản nhân tạo, ương và nuôi thương phẩm cá mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides, Hamilton, 1822) tại Bình Định", mã số 04-03-2019, do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định quản lý, Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền Bắc thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I là cơ quan chủ trì thực hiện. Chủ nhiệm nhiệm vụ là ThS. Cao Văn Hạnh. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu được hoàn thành vào tháng 5/2022.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.
- Giữ hồn nếp Ngự Sa Huỳnh, nếp Cút: Cuộc "hồi sinh" hai giống lúa đặc sản Quảng Ngãi (21/09/2026)
- Semi-Biofloc: Lời giải cho bài toán nuôi tôm thẻ chân trắng bền vững ở Bình Định (18/09/2026)
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để thúc đẩy tài chính toàn diện nhằm thích ứng với... (16/09/2026)
- Gỡ nút thắt hiếm muộn ở miền Trung: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định làm chủ kỹ thuật... (11/09/2026)
- Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim trong chẩn đoán và định hướng... (09/09/2026)
