Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 3069
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Gỡ nút thắt hiếm muộn ở miền Trung: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định làm chủ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (11/09/2026)

Suốt nhiều năm, với hàng nghìn cặp vợ chồng hiếm muộn ở Bình Định và các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai, Kon Tum, con đường tìm con luôn phải bắt đầu bằng một chuyến đi xa. Không có cơ sở y tế nào tại chỗ đủ điều kiện triển khai kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) – phương pháp điều trị vô sinh hiệu quả nhất hiện nay – người bệnh buộc phải vào tận Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ra Hà Nội, gánh thêm hàng chục triệu đồng chi phí ăn ở, đi lại, chưa kể những lần tái khám kéo dài hàng tháng trời. Đó là thực tế đã thôi thúc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định bắt tay triển khai đề tài nghiên cứu khoa học nhằm tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng kỹ thuật TTTON ngay tại địa phương.

Theo thống kê được giáo sư Nguyễn Viết Tiến và cộng sự công bố năm 2011, tỷ lệ vô sinh trong dân số Việt Nam vào khoảng 7,7%. Với quy mô dân số hơn 1,5 triệu người, riêng tỉnh Bình Định đã có thể ước tính một lượng không nhỏ các cặp vợ chồng cần đến sự hỗ trợ y tế để có con. Trong khi đó, tại khu vực miền Trung, chỉ có Bệnh viện Đà Nẵng và Bệnh viện Trung ương Huế triển khai kỹ thuật TTTON, nhưng năng lực tiếp nhận vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân trong vùng.

Về mặt chuyên môn, thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung) chỉ giải quyết được phần lớn các trường hợp vô sinh không liên quan đến chất lượng tinh trùng. Với các nguyên nhân phức tạp hơn như thiểu tinh, tinh trùng yếu và dị dạng, không có tinh trùng khi xuất tinh do tắc nghẽn hoặc không do tắc nghẽn, thì kỹ thuật thụ tinh nhân tạo gần như bất lực, buộc phải nhờ đến TTTON. Ngay cả với những trường hợp buồng trứng đa nang – trước đây thường được xử lý bằng phẫu thuật nội soi đốt điểm buồng trứng – thì phương pháp này cũng dần bị thay thế bởi TTTON do nguy cơ hủy hoại mô lành và dính mô buồng trứng sau mổ. Nói cách khác, TTTON đã trở thành lựa chọn hàng đầu, gần như là "cửa cuối cùng" cho phần lớn các cặp vợ chồng vô sinh không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác.

Trước thực trạng đó, đề tài "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm điều trị vô sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định" được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định phê duyệt triển khai, với ba mục tiêu cụ thể: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân vô sinh thực hiện TTTON tại bệnh viện; tiếp nhận và ứng dụng kỹ thuật TTTON điều trị vô sinh; và đánh giá kết quả điều trị để hoàn thiện quy trình phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

 

Ba nhà khoa học Steptoe, Purdy và Edwards với em bé ra đời bằng kỹ thuật TTTON
đầu tiên trên thế giới, bé gái Louise Brown tại bệnh viện Oldham, Anh Quốc.

Để bảo đảm tính an toàn và hiệu quả ngay từ những ca đầu tiên, nhóm thực hiện đề tài đã lựa chọn hình thức hợp tác chuyển giao kỹ thuật với một đơn vị đầu ngành phía Nam là Bệnh viện Từ Dũ (Thành phố Hồ Chí Minh). Hợp đồng chuyển giao được ký kết, theo đó đội ngũ chuyên gia của Bệnh viện Từ Dũ – trong đó có Phó giám đốc bệnh viện và Trưởng khoa Hiếm muộn – trực tiếp sang hỗ trợ, đào tạo cho các bác sĩ chuyên khoa II và cử nhân của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định.

Trong tổng số 40 cặp vợ chồng vô sinh tham gia điều trị bằng kỹ thuật TTTON, 20 cặp đầu tiên được các bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ trực tiếp thực hiện để làm mẫu và đào tạo tại chỗ. 20 cặp tiếp theo do chính đội ngũ y bác sĩ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định đảm nhận, dưới sự giám sát, hội chẩn trực tuyến qua hình ảnh với các chuyên gia tuyến trên. Đây là cách làm giúp đội ngũ tại chỗ vừa được "cầm tay chỉ việc" trong những ca khó, vừa từng bước làm chủ hoàn toàn quy trình kỹ thuật, thay vì chỉ tiếp nhận lý thuyết đơn thuần.

Kết quả của quá trình chuyển giao này đã được cơ quan quản lý nhà nước công nhận chính thức. Ngày 7/2/2021, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 1100/QĐ-BYT do Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn ký, công nhận Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm – một dấu mốc đưa Bình Định trở thành một trong số ít địa phương ở khu vực Nam Trung Bộ có thể tự triển khai kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chuyên sâu này.

Phân tích đặc điểm của 40 cặp vợ chồng tham gia nghiên cứu cho thấy nhiều điều đáng chú ý về thực trạng vô sinh tại địa phương. Độ tuổi trung bình của các bệnh nhân nữ là 29,1, trong đó nhóm 26-35 tuổi chiếm tới 70% – đây cũng là giai đoạn được xem là "thời điểm vàng" để can thiệp hỗ trợ sinh sản trước khi khả năng thụ thai suy giảm theo tuổi tác. Về nghề nghiệp, nhóm cán bộ công chức chiếm tỷ lệ cao nhất (35%), tiếp đến là công nhân (30%). Đáng chú ý, có tới 90% bệnh nhân chưa từng sinh nở, phản ánh gánh nặng tâm lý không nhỏ khi phần lớn người tìm đến TTTON là những người lần đầu mong con.

Thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng khá dài, phần lớn trên hai năm, cho thấy trước khi tìm đến kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nhiều người đã trải qua một hành trình điều trị nội khoa hoặc các biện pháp khác không thành công. Về nguyên nhân, tỷ lệ vô sinh do phía người vợ chiếm ưu thế (47,8%), trong đó tắc vòi trứng và rối loạn phóng noãn là hai nguyên nhân nổi trội nhất; 80% bệnh nhân có tiền sử viêm âm đạo – cổ tử cung. Phác đồ kích thích buồng trứng bằng đối vận (antagonist) được sử dụng phổ biến, chiếm 80% số ca, với thời gian kích thích trung bình 10,35 ngày – lựa chọn này giúp hạn chế nguy cơ quá kích buồng trứng, một biến chứng đáng lo ngại của kỹ thuật TTTON.

Về kết quả kỹ thuật, số noãn chọc hút được trung bình đạt 11,31 noãn/ca, tỷ lệ thụ tinh đạt 75%, tỷ lệ tạo phôi đạt 92%, trong đó phôi tốt (loại I, II) chiếm 55%. Số phôi chuyển trung bình mỗi chu kỳ là 2,1 phôi. Trong 40 chu kỳ chuyển phôi trữ, tỷ lệ có thai sinh hóa (xét nghiệm beta-HCG dương tính) đạt 42,5%, còn tỷ lệ thai lâm sàng – xác nhận qua siêu âm thấy túi thai – đạt 37,5%, tương đương 15/40 ca. Trong số 15 cặp vợ chồng mang thai thành công, phần lớn mang đơn thai (86,7%), chỉ có hai trường hợp song thai và không có trường hợp đa thai từ ba trở lên – một kết quả được đánh giá là an toàn, hạn chế các nguy cơ liên quan đến đa thai.

Theo dõi thai kỳ ba tháng đầu cho thấy phần lớn sản phụ (73,3%) không bị ra máu âm đạo; đa số có chiều dài cổ tử cung bình thường qua siêu âm ở tuần 16-18. Chỉ có một trường hợp cổ tử cung ngắn bất thường dẫn đến sẩy thai ở tuần 23. Tính đến thời điểm tổng kết đề tài, đã có 14 em bé chào đời khỏe mạnh và 2 bà mẹ đang trong giai đoạn chờ sinh, với tình trạng thai kỳ tiến triển tốt. Các biến chứng phát sinh trong quá trình điều trị, như hội chứng quá kích buồng trứng, đều ở mức độ nhẹ và được xử lý, điều trị khỏi hoàn toàn.

Cùng với việc triển khai kỹ thuật, nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng và hoàn thiện một hệ thống quy trình chuẩn cho toàn bộ chu trình điều trị, bao gồm: quy trình lọc rửa tinh trùng phục vụ thụ tinh ống nghiệm, quy trình chọc hút noãn, quy trình trữ phôi bằng phương pháp thủy tinh hóa, quy trình chuyển phôi vào buồng tử cung, quy trình tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), cùng quy trình xử lý các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình điều trị. Đây là những tài liệu chuyên môn quan trọng, đóng vai trò như "cẩm nang kỹ thuật" giúp đội ngũ y bác sĩ tại bệnh viện duy trì và nhân rộng kỹ thuật một cách ổn định trong dài hạn.

Từ những kết quả đạt được, nhóm thực hiện đề tài khẳng định Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định đã hoàn thành việc tiếp nhận và ứng dụng thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm do Bệnh viện Từ Dũ chuyển giao, được Bộ Y tế chính thức công nhận đủ điều kiện triển khai. Kết quả điều trị với tỷ lệ có thai lâm sàng 37,5% và 14 em bé đã chào đời là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật khi được làm chủ tại một bệnh viện tuyến tỉnh, mở ra cơ hội tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản chất lượng cao ngay tại địa phương cho người dân Bình Định và các tỉnh lân cận, thay vì phải di chuyển hàng trăm cây số như trước đây.

Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra hai kiến nghị cụ thể: một là, Sở Y tế và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định cần tăng cường truyền thông, quảng bá về Đơn nguyên Hỗ trợ sinh sản thuộc Khoa Phụ sản để các cơ quan, ban ngành và người dân trong và ngoài tỉnh biết đến dịch vụ này; hai là, cần tiếp tục đầu tư bổ sung trang thiết bị hiện đại như hệ thống khí sạch trong phòng labo, máy siêu âm ngã âm đạo, hệ thống theo dõi phôi liên tục (time-lapse) và tủ nuôi cấy phôi thế hệ mới, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và tỷ lệ thành công của kỹ thuật trong thời gian tới.

Đề tài "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm điều trị vô sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định" do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định quản lý, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định là cơ quan chủ trì thực hiện, với sự phối hợp chuyên môn của Bệnh viện Từ Dũ (Thành phố Hồ Chí Minh). Chủ nhiệm đề tài là BS.CKII. Hồ Việt Mỹ, cùng nhóm cộng sự gồm các bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Bích Vân Thùy, Nguyễn Quốc Tính và cử nhân Nguyễn Thị Hòa Hưng. Đề tài được nghiệm thu và tổng kết vào tháng 8/2021.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.