Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 3069 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim trong chẩn đoán và định hướng điều trị bệnh động mạch vành mãn tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh (09/09/2026)
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, mô hình bệnh tật cũng đã có nhiều thay đổi. Năm 2016, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng: Bệnh tim mạch đã trở thành nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu trên thế giới. Trong đó, chủ yếu là tử vong liên quan đến bệnh động mạch vành.

Hình ảnh bệnh nhân thực hiện chụp xạ hình tưới màu cơ tim.
Bệnh đang có xu hướng tăng lên nhanh chóng và có tỷ lệ tử vong cao. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới năm 2016, trên thế giới có khoảng 140 triệu người mắc bệnh động mạch vành (chiếm khoảng 1,72% tổng dân số), hàng năm có khoảng 17,9 triệu người chết do bệnh tim mạch, trong đó 85% là do bệnh động mạch vành (khoảng 15 triệu người). Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ĐMV có xu hướng tăng lên nhanh và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Theo thống kê của WHO năm 2016 có khoảng 31% trường hợp (170.000) tử vong hàng năm là do bệnh tim mạch, trong đó 70% là do bệnh lý động mạch vành.
Tại Quảng Ninh, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn tính cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Theo số liệu thống kê của phòng Kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, năm 2016 có khoảng 908 lượt bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn tính đến khám ngoại trú tim mạch/tháng, khoảng 150 lượt bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn tính điều trị nội trú/tháng. Đến năm 2019, có khoảng 1.000 lượt bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn đến khám tại phòng khám tim mạch/tháng và có khoảng 412 lượt bệnh nhân điều trị nội trú/tháng. Số lượng bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn tính cần được điều trị ngày càng tăng lên rõ rệt. Đòi hỏi chúng ta cần phải đầu tư, ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị bệnh động mạch vành... Xuất phát từ thực tế trên, Bệnh viên Đa khoa tỉnh Quảng Ninh tiến hành triển khai đề tài Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim trong chẩn đoán và định hướng điều trị bệnh động mạch vành mãn tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh do Ths.Bs Nguyễn Thị Thoa làm chủ nhiệm.
Nhóm triển khai đề tài tiến hành nghiên cứu chụp XHTMCT trên 157 bệnh nhân mắc bệnh vành mạn tính, kết quả thu được như sau:
(1) Đặc điểm tổn thương của bệnh tim thiếu máu cục bộ trên xạ hình tưới máu cơ tim và mối liên quan với các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng: Tỷ lệ có kết quả XHTMCT dương tính là 91,1%, tỷ lệ âm tính là 8,9%; Có 54,5% bệnh nhân có tổn thương có tổn thương thiếu máu cơ tim mức độ nặng với diện thiếu máu trên 10% trên kết quả chụp XHTMCT. Có 54,3% bệnh nhân có tổn thương khuyết xạ mức độ từ trung bình đến nặng. Diện tổn thương càng rộng, mức độ tổn thương càng nặng thì khả năng mắc bệnh động mạch vành càng cao (p<0,05); Cơn đau thắt ngực điển hình và các biến đổi gợi ý thiếu máu cơ tim trên điện tâm đồ khi nghỉ là các triệu chứng có giá trị, gợi ý khả năng chẩn đoán bệnh mạch vành với kết quả XHTMCT dương tính (p<0,05); Rối loạn vận động vùng kèm theo có biến đổi gợi ý thiếu máu cơ tim trên điện tâm đồ khi nghỉ và có kết quả XHTMCT dương tính có giá trị rất cao để chẩn đoán bệnh động mạch vành (p<0,0001).
Trong số 157 bệnh nhân, có 45,7% bệnh nhân có tổn thương khuếch xạ mức độ nhẹ, 52,3% bệnh nhân có tổn thương khuếch xạ mức độ vừa, 1,9% mức độ nặng. (Biểu đồ 4)
Có 91,2% bệnh nhân có cơn đau thắt ngực điển hình có tổn thương khuếch xạ từ mức độ trung bình đến nặng XHTMCT, cao hơn so với nhóm bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không điển hình (8,8%) với p<0,001. Điều này khá tương đồng với nghiên cứu của tác giả Đào Tiến Mạnh (2006) [18]. Như vậy, cơn đau thắt ngực trên lâm sàng có thể là yếu tố dự báo mức độ khuếch xạ trên XHTMCT.
Có 91,1 % bệnh nhân có các biến đổi trên điện tâm đồ có tổn thương khuếch xạ từ trung bình đến nặng trên XHTMCT, cao hơn so với nhóm bệnh nhân không có biến đổi trên điện tâm đồ (8,9%) với p=0,034. Như vậy, sự thay đổi trên điện tâm đồ bề mặt ở bệnh nhân có bệnh mạch vành mạn tính có thể là một yếu tố dự báo mức độ tổn thương thiếu máu cơ tim trên XHTMCT.
Trong nhóm bệnh nhân có kết quả xạ hình tưới máu cơ tim dương tính, 78,3% bệnh nhân có biểu hiện cơn đau thắt ngực điển hình trên lâm sàng. Trong khi đó, ở nhóm có kết quả XHTMCT âm tính đa số bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không điển hình (18,2%) hoặc không đau ngực (3,5%). Tỷ lệ CĐTN điển hình cao hơn ở nhóm có kết quả XHTMCT dương tính với p = 0,028.
Tỷ lệ chụp động mạch vành dương tính ở nhóm bệnh nhân có CĐTN điển hình (82,2%) cao hơn so với nhóm bệnh nhân có CĐTN không điển hình (58,1%) với p = 0,034.
Điện tâm đồ khi nghỉ có dấu hiệu của bệnh tim thiếu máu cục bộ chiếm 79%. Kết quả XHTMCT dương tính cao hơn ở nhóm có biến đổi trên điện tâm đồ (76,99%) cao hơn so với nhóm không có biến đổi trên điện tâm đồ (23,01%) với p = 0,02.
Trong đó những biến đổi đặc hiệu như: Hình ảnh MNCT cũ (Q;QS), ST chênh lên thiếu máu, ST chênh xuống thiếu máu, sóng T âm, Block nhánh trái là những dấu hiệu đặc hiệu có liên quan chặt chẽ với tình trạng thiếu máu cơ tim trên xạ hình tưới máu cơ tim.
Tỷ lệ bệnh nhân chụp động mạch vành dương tính ở nhóm bệnh nhân có biến đổi trên điện tâm đồ (91%) cao hơn so với nhóm bệnh nhân không có biến đổi trên điện tâm đồ (54,7%) với p = 0,041.
Như vậy, nếu kết quả XHTMCT dương tính ở những bệnh nhân có biến đổi trên điện tâm đồ khi nghỉ gợi ý có thiếu máu cơ tim thì khả năng mắc bệnh động mạch vành ở những bệnh nhân này là rất cao.
(2) Giá trị của phương pháp chụp xạ hình tưới máu cơ tim trong chẩn đoán và định hướng điều trị bệnh mạch vành mạn tính: Chụp XHTMCT với Tc-99m chẩn đoán bệnh động mạch vành mạn tính có độ nhạy 91,9%; độ đặc hiệu 88,2%; giá trị dự báo dương tính 95,2%; giá trị dự báo âm tính 81,1% và độ chính xác dự báo là 91,67%; Chụp XHTMCT có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc chẩn đoán các nhánh động mạch vành bị tổn thương, qua đó giúp định hướng chiến lược can thiệp mạch vành cho bệnh nhân trong trường hợp có tổn thương nhiều thân động mạch vành với mức độ tổn thương tương đồng nhau; Chụp xạ hình tưới máu cơ tim rất có giá trị trong việc định hướng chiến lược điều trị thuốc, chiến lược can thiệp mạch vành ở những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành mạn tính đã được chụp mạch vành qua da; Phương pháp xạ hình tưới máu cơ tim với technitium – 99m Sestamibi được thực hiện tương đối an toàn; Xạ hình tưới máu cơ tim có giá trị trong việc tiên lượng các biến cố tim mạch ở bệnh nhân mặc bệnh động mạch vành mạn tính.
(3) Vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim trong việc định hướng điều trị bệnh động mạch vành mạn tính: Dựa trên kết quả chụp xạ hình tưới máu cơ tim đã giúp cho 46 bệnh nhân (3 bệnh nhân có thiếu máu cơ tim nhẹ trên XHTMCT và có hẹp trên 90% đường kính lòng mạch vành, 15 bệnh nhân có thiếu máu cơ tim nặng trên XHTMCT có hẹp 70-90% đường kính lòng mạch vành, 28 bệnh nhân có thiếu máu cơ tim nặng trên XHTMCT có hẹp trên 90% đường kính lòng mạch vành trên kết quả chụp DSA) được can thiệp mạch vành qua da kịp thời. Qua đó giúp làm giảm các biến cố tim mạch cho bệnh nhân cũng như làm giảm tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân này. Trong nhóm bệnh nhân có thiếu máu cơ tim mức độ nhẹ với diện thiếu máu cơ tim dưới 10% trên XHTMCT và có hẹp 70-90% đường kính lòng mạch vành. Trước kia khi chưa có chụp XHTMCT thì nhóm này cũng vẫn được can thiệp mạch vành. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi việc áp dụng kỹ thuật này đã giúp cho nhóm bệnh nhân này không phải can thiệp quá mức. Qua đó tránh được nhiều biến chứng của can thiệp mạch vành cũng như biến chứng chảy máu do dùng thuốc chống đông đồng thời cũng giúp tiết kiệm được nhiều nguồn lực về kinh tế cho bệnh nhân, gia đình và xã hội.
(4) Đề xuất giải pháp ứng dụng kỹ thuật xạ hình tưới mấu cơ tim trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh: Trong bối cảnh hiện nay, bệnh lý tim mạch ngày càng gia tăng trong cộng đồng nói chung và bệnh lý mạch vành mạn tính nói riêng đang trở thành một bệnh lý gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe, tinh thần cũng như tiêu tốn về tài chính kinh tế của người dân. Những hậu quả của việc mắc bệnh lý mạch vành mạn tính có thể kể ra như: suy tim, đột tử, giảm khả năng lao động, sinh hoạt, tiêu tốn nhiều về mặt chi phí điều trị. Hàng năm, số lượng bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú về các bệnh lý mạch vành mạn tính tiếp tục gia tăng, cùng với sự gia tăng của các bệnh lý nguy cơ đi kèm như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp. Cùng với sự phát triển của y học thế giới, việc cần thiết phải đưa vào những phương tiện chẩn đoán có giá trị như SPECT tim là cần thiết. Giá trị của SPECT tim đã được chứng minh là tăng khả năng chẩn đoán và giảm chi phí điều trị cho các bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính.
Thứ nhất, sớm hoàn thiện quy trình chẩn đoán bệnh mạch vành mạn tính, và đưa SPECT tim là một trong những phương tiện chẩn đoán không xâm lấn có vai trò quan trọng trong việc đưa ra phương án điều trị cũng như phương tiện tiên lượng có giá trị cho bệnh nhân.
Thứ hai, sớm đưa SPECT tim trở thành phương tiện chẩn đoán ở các bệnh viện có chụp và can thiệp động mạch vành qua da, để làm giảm bớt những trường hợp can thiệp quá sớm hoặc can thiệp mà không có SPECT đánh giá.
Thứ 3, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về vai trò, hiệu quả của SPECT tim là một phương tiện chẩn đoán mới, có tính hiệu quả cao, giá thành phù hợp và an toàn để người bệnh hiểu, cũng như sẵn sàng đồng ý thực hiện kỹ thuật như một cận lâm sàng thường quy khi chẩn đoán và tiên lượng bệnh lý mạch vành mạn tính.
Thứ 4, tiếp tục thực hiện chụp SPECT cho nhiều bệnh nhân, tổng hợp và phân tích nghiên cứu để dựa vào đó tiếp tục đánh giá vai trò, hiệu quả, những đặc điểm bệnh lý đặc thù của nhóm bệnh nhân tại tỉnh Quảng Ninh, từ đó định hướng chiến lược tầm soát, điều trị, cũng như đưa ra được những khuyến cáo riêng cho phác đồ điều trị bệnh mạch vành mạn tính.
Thứ 5, kết hợp nhiều chuyên khoa, nhiều bác sĩ tim mạch, phối hợp giữa chụp SPECT tim, chụp động mạch vành qua da, rút kinh nghiệm từ kết quả chụp mạch vành qua da để đưa ra những phương án tốt nhất cho bệnh nhân.
Thứ 6, có chiến lược đào tạo lâu dài nguồn nhân lực phục vụ phát triển kỹ thuật SPECT tim, cử các bác sĩ có chuyên môn đi đào tạo, có thể phát triển thêm những kỹ thuật SPECT tim khác như đánh giá chức năng tim trên SPECT tim, đánh giá bệnh lý cơ tim trên SPECT tim, từ đó nâng cao sự đa dạng của các phương tiện chẩn đoán, cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Giữ hồn nếp Ngự Sa Huỳnh, nếp Cút: Cuộc "hồi sinh" hai giống lúa đặc sản Quảng Ngãi (21/09/2026)
- Semi-Biofloc: Lời giải cho bài toán nuôi tôm thẻ chân trắng bền vững ở Bình Định (18/09/2026)
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để thúc đẩy tài chính toàn diện nhằm thích ứng với... (16/09/2026)
- Chủ động nguồn giống cá mú đen chấm nâu: Hướng đi mới cho nghề nuôi biển Bình Định (14/09/2026)
- Gỡ nút thắt hiếm muộn ở miền Trung: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định làm chủ kỹ thuật... (11/09/2026)
