Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 3068
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Giữ hồn nếp Ngự Sa Huỳnh, nếp Cút: Cuộc "hồi sinh" hai giống lúa đặc sản Quảng Ngãi (21/09/2026)

Sa Huỳnh không chỉ được biết đến với một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng, mà còn gắn liền với một giống nếp quý từng chỉ được dùng để tiến vua - nếp Ngự. Cùng với nếp Cút của vùng Nghĩa Kỳ, đây là hai trong số những giống lúa nếp đặc sản mang đậm dấu ấn văn hóa và kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi. Thế nhưng, trước khi câu chuyện phục hồi được viết tiếp, cả hai giống nếp này đã có những năm tháng đứng bên bờ mai một.

Quảng Ngãi vốn là một trong những địa phương sở hữu nguồn tài nguyên giống lúa bản địa phong phú và đa dạng, với nhiều giống lúa tẻ và lúa nếp đặc sản mang giá trị kinh tế, văn hóa và sinh thái cao như Tràng hạt, Vung, Kéo, Lớn, Vốc... Những giống lúa này đã thích nghi tốt với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đặc thù của vùng và mang những đặc tính quý về chất lượng gạo, hương vị cũng như khả năng chống chịu tự nhiên. Tuy nhiên, trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, dưới tác động của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống thủy lợi và sự du nhập ồ ạt của các giống lúa lai năng suất cao, phần lớn giống lúa bản địa đã dần bị thay thế, dẫn đến tình trạng mai một và xói mòn nguồn gen nghiêm trọng - một thực trạng không chỉ diễn ra ở Quảng Ngãi mà còn là xu hướng chung của nhiều địa phương trong cả nước.

Một số đặc điểm của giống nếp Ngự Sa Huỳnh.

Trong khi công tác nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa mới chất lượng cao đã đạt nhiều thành tựu, các giống lúa đặc sản địa phương lại chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều giống có giá trị cao nhưng tồn tại những hạn chế như cây cao dễ đổ ngã, thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém, đặc biệt là tình trạng thoái hóa giống do canh tác lâu năm mà thiếu quy trình phục tráng và bảo tồn khoa học, khiến giá trị thương phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường bị suy giảm. Nếp Cút - giống nếp truyền thống lâu đời của vùng Nghĩa Kỳ, nổi bật với chất lượng gạo dẻo, thơm, hàm lượng tinh bột cao và giá trị kinh tế vượt trội - cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó, đang bị pha tạp, suy giảm cả năng suất lẫn chất lượng do điều kiện canh tác chưa phù hợp. Nếp Ngự Sa Huỳnh, giống nếp gắn liền với vùng văn hóa Sa Huỳnh, cũng đang bị suy thoái nguồn gen, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng sản phẩm - trong khi đây đều là những giống lúa giàu tiềm năng để phát triển thành sản phẩm đặc sản, xây dựng thương hiệu, phục vụ tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Trong bối cảnh nhu cầu thị trường đối với gạo nếp, gạo đặc sản ngày càng tăng theo đà hội nhập kinh tế quốc tế, việc bảo tồn và phát triển các giống lúa bản địa không chỉ góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp mà còn nâng cao giá trị gia tăng, tạo sinh kế bền vững cho nông dân và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương. Để khai thác hiệu quả tiềm năng ấy, cần có những nghiên cứu bài bản về điều tra, thu thập, đánh giá và phục tráng nguồn gen, kết hợp giữa phương pháp truyền thống với các tiến bộ của công nghệ sinh học hiện đại - đúng với định hướng mà các chương trình bảo tồn nguồn gen và tái cơ cấu ngành lúa gạo của Nhà nước đã đặt ra. Chính từ những đòi hỏi cấp bách đó, một nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh đã được triển khai nhằm điều tra, thu thập, đánh giá và bảo tồn nguồn gen giống nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nhiệm vụ được xác lập với mục tiêu tổng quát là điều tra, thu thập, đánh giá nguồn gen và nghiên cứu phục tráng giống nếp Ngự Sa Huỳnh cùng nếp Cút địa phương, phục vụ sản xuất, lưu giữ an toàn nguồn gen, đồng thời đề xuất các biện pháp bảo tồn, khai thác bền vững và phát triển hai giống cây trồng quý có giá trị kinh tế cho tỉnh Quảng Ngãi. Từ mục tiêu tổng quát này, bốn mục tiêu cụ thể được đặt ra: điều tra, thu thập và đánh giá nguồn gen nhằm xác định nguồn gốc, định danh loài, đặc điểm sinh thái và nông sinh học của hai giống; phục tráng hai giống đúng với đặc điểm gốc, đạt độ thuần cao 99,9%, giữ được các đặc điểm tốt về sinh trưởng, phát triển và chất lượng; sản xuất hạt giống cấp siêu nguyên chủng và nguyên chủng để phục vụ xây dựng mô hình sản xuất thâm canh quy mô 6 ha (mỗi giống 3 ha) với năng suất trên 35 tạ/ha; và đề xuất giải pháp kỹ thuật để bảo tồn, duy trì, khai thác, phát triển hiệu quả hai giống nếp trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện các mục tiêu này, nhóm nghiên cứu đã triển khai một chuỗi nội dung công việc khá toàn diện. Trước tiên là điều tra, phân tích và đánh giá hiện trạng canh tác, sản xuất của cả hai giống nếp tại các vùng trồng truyền thống, làm rõ diện tích canh tác, năng suất thực tế cũng như những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong sản xuất hiện nay. Song song đó, việc thu thập mẫu giống được tiến hành trên diện rộng, với 100 mẫu cho mỗi giống, từ đó xây dựng bảng mô tả các tính trạng đặc trưng: 59 tính trạng đối với nếp Ngự Sa Huỳnh và 54 tính trạng đối với nếp Cút địa phương. Trên nền dữ liệu kiểu hình thu thập được, nhóm nghiên cứu tiếp tục đánh giá đa dạng di truyền dựa trên cả kiểu hình lẫn kiểu gene, sử dụng các chỉ thị phân tử để định danh chính xác, qua đó xác định cả hai giống nếp đều thuộc loài phụ Japonica và tư liệu hóa đầy đủ nguồn gen của chúng.

Một số hình ảnh trong quá trình phục tráng giống nếp Ngự Sa Huỳnh trên đồng ruộng.

Bước tiếp theo, mang tính quyết định đối với việc phục hồi hai giống lúa, là công tác phục tráng. Nhóm nghiên cứu kết hợp phương pháp công nghệ sinh học - thông qua điện di protein SDS-PAGE và các chỉ thị phân tử để tuyển chọn cá thể có hàm lượng amylose thấp, hàm lượng protein và mùi thơm đạt yêu cầu - với phương pháp chọn lọc truyền thống qua nhiều thế hệ dòng, nhằm loại bỏ các cá thể pha tạp và giữ lại đúng đặc tính nông sinh học, phẩm chất hạt cũng như khả năng kháng sâu bệnh của giống gốc. Kết quả, cả hai giống nếp đã được phục tráng thành công, sản xuất được 300 kg hạt giống siêu nguyên chủng và 600 kg hạt giống nguyên chủng cho mỗi giống, đạt tiêu chuẩn quốc gia về quy trình sản xuất hạt giống cây trồng tự thụ phấn theo TCVN 12181:2018.

Từ nguồn giống đã phục tráng, nhóm nghiên cứu tiếp tục xây dựng các mô hình thâm canh nhằm xác định biện pháp kỹ thuật canh tác tối ưu cho từng giống. Đối với nếp Ngự Sa Huỳnh, các thí nghiệm về lượng giống gieo sạ và mức phân bón đã xác định công thức phù hợp nhất là gieo sạ với lượng giống 100 kg thóc nếp giống/ha, kết hợp bón 90 kg N, 60 kg P2O5 và 70 kg K2O cho mỗi hecta, cho năng suất và chất lượng cao. Đối với nếp Cút địa phương - vốn được canh tác theo phương thức cấy - thí nghiệm về mật độ cấy và phân bón xác định công thức tối ưu là cấy với mật độ 45 khóm/m², cùng mức bón phân tương tự 90 kg N, 60 kg P2O5, 70 kg K2O/ha.

Trên cơ sở các biện pháp kỹ thuật đã xác định, đề tài tiến hành xây dựng mô hình trình diễn với quy mô 3 ha cho mỗi giống. Mô hình nếp Ngự Sa Huỳnh đạt năng suất 4,82 tấn/ha, mang lại lãi ròng 45,064 triệu đồng/ha, cao hơn 10,672 triệu đồng so với sản xuất đại trà, tương ứng hiệu quả kinh tế tăng thêm 31,03%. Mô hình nếp Cút địa phương đạt năng suất 3,62 tấn/ha, lãi ròng 12,992 triệu đồng/ha; dù thấp hơn 6,720 triệu đồng so với sản xuất đại trà do đặc thù giống có thời gian sinh trưởng dài và chi phí đầu tư cao hơn, mô hình vẫn khẳng định được khả năng canh tác ổn định, chất lượng gạo vượt trội và tiềm năng phát triển theo hướng sản phẩm đặc sản giá trị cao.

Không dừng lại ở khâu sản xuất, nhóm thực hiện đề tài còn xây dựng quy trình bảo tồn nội vi kết hợp ngoại vi, nhằm lưu giữ lâu dài nguồn gen của cả hai giống nếp, đồng thời tổ chức đào tạo cán bộ kỹ thuật về phục tráng và nhân giống, mở các lớp tập huấn và hội thảo đầu bờ để chuyển giao kỹ thuật canh tác cho nông dân tại vùng trồng. Đây là bước chuẩn bị cần thiết để những kết quả nghiên cứu không dừng lại trên giấy mà thực sự lan tỏa vào sản xuất, giúp nông dân địa phương có thể tiếp cận và nhân rộng mô hình canh tác hai giống nếp đặc sản này trong thời gian tới.

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Điều tra, thu thập, đánh giá và bảo tồn nguồn gen giống nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi", mã số QGT35.ĐT.01/2022, do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi quản lý, Trường Đại học Quy Nhơn là tổ chức chủ trì và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm làm chủ nhiệm, đã được triển khai đầy đủ các nội dung, đúng tiến độ, với các sản phẩm đáp ứng toàn bộ mục tiêu đặt ra ban đầu.

Kết quả nổi bật nhất của nhiệm vụ là đã hoàn thành việc điều tra, thu thập 100 mẫu mỗi giống, xây dựng được bảng mô tả tính trạng đặc trưng, đánh giá đầy đủ hiện trạng canh tác, đồng thời xác định được cả hai giống nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương đều thuộc loài phụ Japonica thông qua các chỉ thị phân tử. Trên cơ sở đó, hai giống lúa đã được phục tráng thành công bằng phương pháp kết hợp công nghệ sinh học với chọn lọc truyền thống, đạt tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất hạt giống cây trồng tự thụ phấn, đủ điều kiện để nhân rộng sản xuất trong thực tế. Các mô hình thâm canh và mô hình trình diễn quy mô 3 ha cho mỗi giống cũng đã chứng minh hiệu quả kinh tế rõ rệt so với sản xuất đại trà, đặc biệt là với nếp Ngự Sa Huỳnh.

Từ những kết quả đạt được, nhóm thực hiện nhiệm vụ kiến nghị Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi cùng các cơ quan có thẩm quyền xem xét hoàn thiện hồ sơ, đề nghị công nhận đặc cách hai giống nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương theo đúng quy định hiện hành. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đề xuất tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ theo hướng hàng hóa cho cả hai giống nếp, gắn với phát triển du lịch văn hóa - sinh thái - nông nghiệp để nâng cao giá trị đặc sản địa phương, trong đó khuyến khích khai thác tiềm năng nếp Ngự Sa Huỳnh gắn với không gian văn hóa Sa Huỳnh và phát triển các sản phẩm đặc trưng như rượu nếp kết hợp dược liệu, đồng thời phát triển mô hình canh tác kết hợp nếp Cút - cá - ốc gắn với du lịch trải nghiệm tại vùng sản xuất. Nhiệm vụ cũng kiến nghị giao đơn vị chủ trì tiếp tục thực hiện công tác bảo tồn ngoại vi đối với cả hai giống nếp, phục vụ cho công tác nghiên cứu, lai tạo và phát triển các giống lúa chất lượng cao, có khả năng thích ứng tốt hơn với điều kiện bất lợi trong tương lai.

Có thể nói, từ những hạt giống tưởng chừng đã mai một trong ký ức của người dân vùng Sa Huỳnh và Nghĩa Kỳ, kết quả của nhiệm vụ đã mở ra một hướng đi cụ thể để hai giống nếp đặc sản này không chỉ được lưu giữ an toàn về mặt nguồn gen, mà còn có cơ hội trở lại đồng ruộng với năng suất, chất lượng được cải thiện, gắn liền với câu chuyện văn hóa - lịch sử của vùng đất Quảng Ngãi, tạo tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu và phát triển sinh kế bền vững cho người nông dân địa phương trong thời gian tới.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.