Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 3060 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Semi-Biofloc: Lời giải cho bài toán nuôi tôm thẻ chân trắng bền vững ở Bình Định (18/09/2026)
Ngành công nghiệp tôm Việt Nam đang đứng trước một mục tiêu không nhỏ: theo Đề án phát triển tổng thể ngành công nghiệp tôm Việt Nam đến năm 2030 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng, kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước phải chạm mốc 12 tỷ đô la Mỹ. Để làm được điều đó, con đường bắt buộc phải đi qua là ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào nuôi tôm, nhằm hạn chế dịch bệnh, giảm ô nhiễm môi trường và tạo ra sản lượng, năng suất cao theo hướng bền vững, thông qua các mô hình như nuôi tôm tuần hoàn tiết kiệm nước, nuôi tôm ứng dụng công nghệ Biofloc hay nuôi tôm tuần hoàn khép kín.
Ở cấp địa phương, Bình Định cũng đặt ra những chỉ tiêu tương ứng. Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, xác định toàn bộ diện tích nuôi tôm bán thâm canh - thâm canh (BTC-TC) của tỉnh phải được ứng dụng quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Mục tiêu đến năm 2030, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng BTC-TC đạt 953 ha, tăng 23,7% so với năm 2020; sản lượng đạt 20.745 tấn, tăng tới 93,7% so với mức 10.710 tấn của năm 2020. Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cũng xác định tôm thẻ chân trắng là đối tượng nuôi chủ lực, cần tăng cường nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để đưa sản lượng vượt 10.000 tấn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế vẫn còn khá xa. Trong nhiều năm liền, sản lượng tôm thẻ chân trắng của Bình Định chỉ dao động 6.000-8.000 tấn mỗi năm, năng suất bình quân chỉ khoảng 8 tấn/ha/năm - một con số khiêm tốn so với tiềm năng. Nguyên nhân chính nằm ở việc người nuôi vẫn áp dụng quy trình BTC-TC truyền thống, vốn bộc lộ nhiều nhược điểm mang tính hệ thống. Trong quá trình nuôi, có tới 75% hàm lượng protein trong thức ăn được chuyển hóa thành các hợp chất nitơ vô cơ như TAN và NO2, làm suy giảm nhanh chất lượng nước ao, buộc người nuôi phải sử dụng một lượng nước rất lớn để cải thiện môi trường. Lượng chất thải giàu dinh dưỡng và hữu cơ xả ra môi trường xung quanh cũng làm suy giảm chất lượng nguồn nước chung của cả vùng nuôi. Nồng độ nitơ vô cơ cao gây độc trực tiếp cho tôm; hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở mức cao, dao động 1,1-1,5; hiệu suất sử dụng protein thấp; tôm nuôi dễ phát sinh dịch bệnh do môi trường biến động và mầm bệnh lây lan nhanh theo chiều ngang. Đi kèm với đó là chi phí đầu vào không hề nhỏ cho việc cấp nước, hóa chất, kháng sinh, chế phẩm sinh học và thức ăn.
Trong bối cảnh đó, công nghệ Semi-Biofloc - được PGS.TS Hoàng Tùng nghiên cứu, cải tiến trên nền tảng công nghệ Biofloc - nổi lên như một hướng đi giàu triển vọng. Với công nghệ này, chất thải và thức ăn dư thừa trong hệ thống nuôi được vi khuẩn dị dưỡng chuyển hóa thành sinh khối dưới dạng hạt floc, trở thành nguồn thức ăn bổ sung cho tôm; nhờ đó chất lượng nước ao nuôi ít bị ô nhiễm hơn và lượng nước sử dụng trong vụ nuôi giảm đáng kể. Vi khuẩn tạo floc còn có khả năng ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh, giúp môi trường ao nuôi ổn định và sức đề kháng của tôm được nâng cao. Vì hạt floc đóng vai trò như một nguồn thức ăn bổ sung, hệ số chuyển hóa thức ăn giảm xuống, trong khi nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh cũng thấp hơn do không cần thay nước nhiều trong suốt vụ nuôi. Theo tính toán, chi phí sản xuất có thể giảm khoảng 8-10% so với quy trình cũ, trong khi năng suất tôm nuôi được kỳ vọng đạt trên 10 tấn/ha/vụ và ổn định qua các vụ nuôi.

Quản lý thức ăn bằng máy cho ăn tự động.
Bình Định hội tụ khá đầy đủ điều kiện để đón nhận công nghệ mới này: diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng BTC-TC của tỉnh đã đạt gần 1.000 ha, cùng với nguồn tôm giống nhân tạo chất lượng được sản xuất ngay trong tỉnh, đạt từ 5-6 tỷ con giống PL12 mỗi năm. Đây chính là tiền đề thuận lợi để việc ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc vào nuôi tôm BTC-TC có thể giúp ngành tôm địa phương phát triển theo hướng bền vững, nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm và giá trị của cả chuỗi sản xuất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, đề tài khoa học công nghệ đã được triển khai với hai mục tiêu cụ thể: hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei, Boone 1931) thương phẩm bán thâm canh - thâm canh một giai đoạn ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc, và hoàn thiện quy trình tương tự cho hình thức nuôi hai giai đoạn, cả hai đều theo hướng phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện thực tế tại Bình Định.
Để đạt được mục tiêu này, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề theo ba hướng song song. Về mặt khoa học, đề tài kế thừa các tài liệu chuyên sâu về công nghệ Biofloc và Semi-Biofloc, tham khảo các công bố khoa học trong và ngoài nước, đồng thời tham vấn ý kiến của các chuyên gia nuôi trồng thủy sản. Về mặt chính sách, đề tài bám sát quy hoạch tổng thể ngành nuôi tôm công nghiệp khu vực miền Trung, quy hoạch nuôi trồng thủy sản và đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Bình Định. Về mặt thực tiễn, nhóm thực hiện đã khảo sát trực tiếp các vùng nuôi tôm trong tỉnh để nắm bắt những hạn chế, tồn tại của quy trình nuôi BTC-TC đang được áp dụng, đồng thời học tập kinh nghiệm tại các mô hình trang trại trong nước đã ứng dụng thành công công nghệ Semi-Biofloc.
Trên cơ sở đó, nội dung nghiên cứu được triển khai gồm bốn phần chính: tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm quản lý và thao tác kỹ thuật nuôi tôm ứng dụng công nghệ mới; xác định tỷ lệ carbon/nitơ (C/N) thích hợp trong quy trình nuôi tôm thương phẩm BTC-TC một giai đoạn; xác định tỷ lệ C/N thích hợp cho quy trình nuôi hai giai đoạn; và tổ chức tập huấn, phổ biến kỹ thuật nuôi tôm ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc cho cả hai hình thức đến người nuôi trong tỉnh. Tỷ lệ C/N được xác định là yếu tố công nghệ then chốt, bởi đây chính là điều kiện quyết định sự hình thành, duy trì và kiểm soát hạt floc trong hệ thống nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm.
Đối với quy trình nuôi một giai đoạn, đề tài đã bố trí thực nghiệm ba nghiệm thức song song trên diện tích ao nuôi 1.000 m² mỗi nghiệm thức, mật độ thả 150 con giống PL12/m², gồm nghiệm thức C/N12-150, nghiệm thức C/N15-150 và nghiệm thức đối chứng C/N dưới 10-150. Sau khi phân tích các yếu tố môi trường cơ bản, hàm lượng TAN và NO2, mật độ floc (FVI), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), tốc độ sinh trưởng, khối lượng thân tôm, năng suất, tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế của từng nghiệm thức, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn nghiệm thức C/N12-150 là nghiệm thức tối ưu để xây dựng quy trình. Sau 90 ngày nuôi, nghiệm thức này đạt tỷ lệ sống 81%, hệ số FCR chỉ 1,05, năng suất 1.732 kg/1.000 m², cỡ tôm thu hoạch khoảng 70 con/kg. Về môi trường, lượng nước sử dụng trong cả vụ nuôi chỉ khoảng 6.000-6.500 m³/1.000 m², hàm lượng TAN dao động 1,1-1,78 ppm và NO2 dao động 0,47-2,5 ppm - đều ở ngưỡng an toàn cho tôm nuôi. Về hiệu quả kinh tế, mô hình mang lại giá trị lợi nhuận 64.000.000 đồng/vụ/1.000 m², tương ứng tỷ suất lợi nhuận 42,2%.

Thu hoạch tôm thương phẩm.
Với quy trình nuôi hai giai đoạn, thực nghiệm được bố trí trên diện tích ao nuôi 500 m² mỗi nghiệm thức, mật độ thả cao hơn, đạt 200 con giống PL12/m². Sau quá trình phân tích và đánh giá tương tự, nghiệm thức C/N15-200 được xác định là tối ưu. Sau 90 ngày nuôi, tỷ lệ sống đạt 82,5%, hệ số FCR ở mức 1,08, năng suất quy đổi đạt 24.665 kg/ha/vụ, cỡ tôm thu hoạch khoảng 68 con/kg. Lượng nước sử dụng trong vụ nuôi khoảng 3.200-3.500 m³/500 m², hàm lượng TAN dao động 0,77-1,39 ppm và NO2 dao động 0,44-1,75 ppm. Về kinh tế, mô hình hai giai đoạn đạt giá trị lợi nhuận 47.127.000 đồng/vụ/500 m², tỷ suất lợi nhuận lên tới 46%, cao hơn cả quy trình một giai đoạn, dù quy mô ao nuôi nhỏ hơn.
Điểm chung của cả hai quy trình sau khi hoàn thiện là đều đáp ứng đồng thời ba nhóm tiêu chí mà đề tài đặt ra ngay từ đầu: hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt so với cách nuôi truyền thống, các chỉ số môi trường nước luôn nằm trong ngưỡng an toàn nhờ lượng nước sử dụng giảm mạnh và hạt floc kiểm soát tốt hàm lượng đạm vô cơ, đồng thời các chỉ tiêu kỹ thuật như tỷ lệ sống, hệ số chuyển hóa thức ăn và năng suất đều được cải thiện đáng kể so với quy trình BTC-TC cũ đang được người nuôi áp dụng phổ biến trong tỉnh.
Đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei, Boone 1931) thương phẩm bán thâm canh - thâm canh ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc theo hướng phát triển bền vững tại Bình Định", mã số 05-03-2020, do Trung tâm Khuyến nông Bình Định (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Định) chủ trì thực hiện, Thạc sĩ Trần Quang Nhựt làm chủ nhiệm, đã hoàn thành đầy đủ các nội dung và mục tiêu đặt ra.
Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công hai quy trình kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm BTC-TC ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc, một cho hình thức nuôi một giai đoạn với nghiệm thức tối ưu C/N12-150, một cho hình thức nuôi hai giai đoạn với nghiệm thức tối ưu C/N15-200. Cả hai quy trình đều cho thấy ưu thế vượt trội so với cách nuôi truyền thống trên cả ba phương diện kinh tế, môi trường và kỹ thuật: tỷ lệ sống của tôm đạt trên 80%, hệ số chuyển hóa thức ăn giảm xuống dưới 1,1, lượng nước sử dụng trong vụ nuôi giảm mạnh, các chỉ tiêu môi trường nước luôn nằm trong ngưỡng an toàn, trong khi tỷ suất lợi nhuận đạt từ 42% đến 46% mỗi vụ nuôi.
Trên cơ sở kết quả đạt được, nhóm thực hiện đề tài kiến nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Định tiếp nhận hai quy trình kỹ thuật nuôi tôm thương phẩm một giai đoạn và hai giai đoạn ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc, đồng thời giao Trung tâm Khuyến nông xây dựng mô hình trình diễn, tổ chức tập huấn và phổ biến rộng rãi kỹ thuật này cho người nuôi tôm trong tỉnh. Đề tài cũng kiến nghị ngành nông nghiệp tiếp tục nghiên cứu mở rộng ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc sang nuôi thương phẩm các đối tượng cá nước ngọt và cá biển trên địa bàn tỉnh, đồng thời sớm triển khai các dự án sản xuất thử nghiệm quy mô lớn hơn đối với cả hai quy trình một giai đoạn và hai giai đoạn, nhằm đẩy nhanh tốc độ ứng dụng công nghệ mới vào thực tế sản xuất tại các vùng nuôi tôm của Bình Định. Đây được xem là bước đi cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững mà quy hoạch ngành thủy sản của tỉnh đã đề ra, đưa nghề nuôi tôm thẻ chân trắng Bình Định thoát khỏi những hạn chế cố hữu của quy trình truyền thống, tiến tới một nền sản xuất hiệu quả, thân thiện với môi trường và có giá trị gia tăng cao hơn.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.
- Giữ hồn nếp Ngự Sa Huỳnh, nếp Cút: Cuộc "hồi sinh" hai giống lúa đặc sản Quảng Ngãi (21/09/2026)
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để thúc đẩy tài chính toàn diện nhằm thích ứng với... (16/09/2026)
- Chủ động nguồn giống cá mú đen chấm nâu: Hướng đi mới cho nghề nuôi biển Bình Định (14/09/2026)
- Gỡ nút thắt hiếm muộn ở miền Trung: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định làm chủ kỹ thuật... (11/09/2026)
- Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim trong chẩn đoán và định hướng... (09/09/2026)
